Thứ Sáu, 31 tháng 12, 2010
Thứ Năm, 2 tháng 12, 2010
Luật cư xử với chiếc xe đổ rác.
Một hôm tôi nhảy lên được một xe tắc-xi để vội-vả đến sân bay. Xe chúng tôi đang chạy bên lane phải, thì có một chiếc xe đen thui bỗng từ bãi đậu chồm ra ngay trước mũi xe. Bác tài-xế tắc-xi của tôi bèn đạp thắng, xe lết đi, và chỉ thoát đụng phải chiếc xe kia trong gang tấc!
Người lái xe kia gân cổ lên nhìn chúng tôi lơ-láo, rồi cất tiếng chửi bới. Bác tài-xế của tôi chỉ mĩm cười và còn vẫy tay chào gã kia. Tôi muốn nói bác ta quả thật là người hiền khô và dễ thương quá đi! Thấy thế, tôi bèn hỏi tại sao bác ta lại xử sự như vậy. Tên kia suýt chút nữa đã làm tan nát chiếc xe của bác và đưa cả hai chúng ta vào nhà thương! Và đây là lúc bác tài-xế đã dạy cho tôi một bài học mà tôi gọi là "Luật Cư Xử Với Chiếc Xe Ðổ Rác"
Bác tài giải-thích rằng: Trên đời nầy không thiếu gì những người chẳng khác gì... những xe đổ rác! Họ chạy lông-nhông ngoài đường, thân mình đầy rác-rưởi, tâm hồn tràn ngập thất-vọng, tức-giận, và bất-mãn với đời. Rác-rưởi càng chồng chất thì họ lại càng muốn tìm được nơi nào trút bỏ, và đôi khi họ nhằm ngay chính bạn để trút đống rác đó.
Vậy thì tại sao bạn lại phải chuốc lấy đống rác nầy nhỉ! Tại sao không chỉ mỉm cười, vẫy tay chào họ, chúc họ khỏi bệnh, rồi tiếp tục con đường mình đi! Nhớ đừng lấy cọng rác nào của họ để rãy lên những người khác nơi mình làm việc, trong gia đình mình, hay cho những người mình gặp trên đường phố.
Ðiểm then chốt cần nhớ là những con người thành-công đều là những kẻ không để cho rác-rưởi xen vào chiếm đoạt một ngày của đời mình. Cuộc sống vốn ngắn ngủi, thì cớ sao sau một giấc ngủ dậy, lại phải vấn vương vì một hối-tiếc nào đó nhỉ? Do đó, ...
* Hãy yêu-thương những kẻ đã đối xử đẹp với ta, và
* Hãy cầu Trời tha-thứ cho những kẻ đã xử tệ với ta,
Cuộc sống nầy chẳng qua chỉ có 10% là do bạn gây ra; và còn lại 90% là tùy xem bạn đối-phó với nó như thế nào.
Tác giả: David J. Pollay
Thứ Tư, 1 tháng 12, 2010
Gửi tặng mấy thằng bạn gốc ớt.
Tui là dân Huế chay tức là Huế 100%, Huế từ trong ra ngoài,
Huế đến nỗi ra Bắc vào Nam, lên vùng cao nguyên tắm đủ
sông hồ ao lạch mà cũng không gột rửa được chất Huế trong
người.
Rồi một sáng một chiều theo với dòng người "di tản buồn",
tôi đến cư ngụ trên xứ Cờ Hoa văn minh hết xẩy này mà chất
Huế vẫn còn tồn tại thâm căn cố đế trong người dù mỗi ngày
cố gắng tắm một lần bằng nước ấm như ngày nào trên quê
hương yêu dấu vào mùa Đông mưa dầm thối đất thối đai.
Tôi dùng chữ "cố gắng" vì chẳng hiểu sao tôi rất lười tắm vì
đã có lần tui thử không tắm gội trong suốt một tuần mà cũng
chẳng thấy người bốc mùi thơm, thúi gì hết cả. Do đó tui tự
nghĩ thầm tắm hay không tắm thì cũng như nhau chẳng được
lợi ích gì, chẳng làm nên tích sự gì. Lại nữa, tui nhớ cách đây
cũng khá lâu, trong lúc trà dư tửu hậu, chuyện trò với một ông
bạn của ông Nội tui, tuổi ngoài tám mươi, Bố tôi mới hỏi:
giờ không?
Ông Cụ vuốt râu cười khà khà:
- Bác rất ít tắm con à! Tắm thì lỗ chân lông nở lớn nên vi
trùng dễ xâm nhập vào người, vì vậy suốt mùa Đông, Bác
không tắm, chỉ dùng khăn thấm nước lau sơ mình mẩy cho
khỏi hôi thúi mà thôi.
Ông nội tui, tuổi lúc bấy giờ cũng trên tám mươi đã phì
cười mà bảo rằng:
- Tui khác ông, mùa Hè cũng như mùa Đông, một ngày
phải tắm một lần, một lần phải mất ít nhất 1 tiếng đồng hồ
để kỳ cọ, xoa nắn các huyệt đạo cho máu huyết lưu thông
Hai ông Cụ, ông nào cũng quy tiên lúc tuổi hạc đã ngoài
chín mươi, ông nào cũng có lý khi bàn đến bí quyết sống lâu,
rất chi là khoa học. Vậy tui phải nghe theo lời của ai bây giờ?
Sang Mỹ, sẵn có nước nóng chảy trong vòi, tắm một ngày một
lần mà chất Huế trong tui vẫn còn nồng cay vì tui ăn ớt như
nhồng trong ba bữa ăn sáng, trưa, tối. Vì thế, ai hỏi tui quê
quán ở đâu, tui đều trả lời một cách hãnh diện rằng tui là
người Việt gốc ớt.
Câu trả lời thật đầy đủ "thông tin".(Tui dịch chữ "ìnformation"
cho có vẻ văn minh thời thượng). Này nhé! Người Việt tức là
người Việt Nam không phải Phi Luật Tân hay Miên, Lào, Thái vv...
Tui đã nhiều lần bị mấy ông bà người Phi hỏi tôi có phải là Philippino
không. Tức như bò đá! Mình là con Rồng cháu Tiên mà bị nhận lầm
là Phi thì có uất ức không cơ chứ? Chắc là tại tui xấu trai , thô kệch.!
Dân Phi nghe tui phát biểu như thế này chắc là kiện tui ra toà, buộc
tội mạ lỵ dân tộc. Các bạn có biết không, mấy cô, mấy bà Phi lai Tàu
đẹp lắm các bạn ơi ! Rồi thì "gốc ớt" là biết ngay nơi chôn nhau cắt rún
của tui là xứ Thần Kinh chứ còn théc méc gì nữa.
Gốc ớt là gốc Huế không sai chạy vào đâu được vì có lần tui bị một
ông bạn hỏi một câu cắc cớ:
- Mi dân Huế, vậy mi có biết tại sao dân Huế chỉ ăn ớt xanh không
mà thôi không?
Tôi gân cổ cãi lại là dân Huế tui ăn đủ mọi thứ ớt: ớt xanh, ớt đỏ,
ớt tím, ớt vàng, ớt chỉ Thiên, ớt chỉ Địa, ớt chìa vôi, ớt hiểm, ớt mọi,
ớt bột, ớt trái tươi cắn dòn tan, chứ làm gì mà lại chỉ ăn ớt xanh.
Ớt xanh là ăn với bánh bột lọc để hài hoà với màu đỏ của con tôm
nằm nữa kín nữa hở trong lớp bột lọc. Ăn như thế là ăn kiểu cầu kỳ
của các Mệ chứ thật ra ớt nào cay thì ăn chứ đâu kể màu sắc.
Ông bạn tui để cho tui nói cho sướng lỗ miệng rồi mới ung dung
giải thích:
- Mi thật là dân Huế mất gốc, không biết chi mô hết! Dân Huế
ăn nhiều ớt quá đến nổi ớt không kịp chín đỏ nên chỉ ăn toàn ớt
xanh. Có rứa mà cũng không biết!
Ui chui choa, tui khoái quá trời khi nghe ông bạn tui ca tụng
cái "đức" ăn ớt của quê hương tui. Tui chỉ muốn ôm hun ông ta
một miếng để thưởng ông ta mà không dám, vì sợ bàn dân thiên
hạ tưởng tui là dân "Gay" vừa mới từ San Francisco xuống quận
Cam chơi.
Nói đến ớt thì phải nói đến cái món ăn "quốc hồn quốc tuý"
của Huế tui là món bún bò. Ai cho tui ăn bún bò mà bảo tui đừng
ăn ớt thì thà chết còn hơn. Thiệt là chưởi Cha tui, tui cũng không
giận bằng! Ớt phải cay xé họng mới làm cho bún bò ngon được!
Ăn bún bò Huế chính gốc là phải vừa ăn vừa hít hà vì ớt cay,
phải đổ mồ hôi trán, tuôn mồ hôi nách (Vì vậy mà dân Huế ai cũng
có một chai Lotion Kata, trị mồ hôi nách bỏ trong túi quần để xài
mỗi khi ăn xong tô bún bò Huế. Tui nói rứa mà ai không tin tui
thì thôi).
Ăn bún bò Huế là chỉ dùng đũa chứ không dùng muỗng, phải húp
xùm xụp mới đúng phong cách Huế. Muỗng chỉ dùng khi ăn phở
Bắc Kỳ mà thôi. Cầm muỗng để ăn bún bò Huế là chưởi Cha cái
tô bún bò Huế mất rồi! Mùa Đông ở Huế không có ớt tươi vì quý
hiếm lắm: "Ớt mùa Đông ba đồng một trái" nên phải ăn ớt bột
hay tương ớt hay ớt ngâm dấm nên vì vậy mà mùa Đông, tô bún
bò Huế đã không ngon bằng tô bún mùa Hè.Trời đã "nóng nung
người, nóng nóng ghê" (Trong Quốc văn giáo khoa thư, mô tả
mùa Hè) thế mà lại còn sì sụp tô bún bò Huế ớt cay chảy nước
mắt, nước mũi, thì thật là ngon không để mô cho hết. Ngon như
rứa thì thôi!
Tôi mời ai ăn bún bò Huế mà mặt cứ lạnh như tiền, ăn một cách
ung dung, nhàn hạ không "khẩn trương" chê ớt không ăn, không
thấy một giọt mồ hôi trên trán thì đừng có hòng được tui mời ăn
lần thứ hai..

Ăn như vậy là "thực bất tri kỳ vị" là không kính trọng tô bún bò
là khinh thường dân Huế tụi tui. Lúc tui còn ở Bloomington, tiểu
bang Indiana, tui có anh bạn trẻ người miền Nam, Saigon hay
đâu đó tôi quên mất tiêu. Anh ta khoái bún bò lắm !
Mỗi lần đến nhà tui ăn bún bò, anh hít hà liền miệng, mồ hôi mồ
kê nhễ nhại, anh tham dự hết mình vào "công cuộc" ăn bún bò
làm tôi thích thú quá chừng, xem anh ta như bạn tri kỷ, tri âm vậy.
Ngoài món bún bò bắt buộc phải có ớt lại còn một món ăn khác
mà ớt cay đóng một phần tối ư quan trọng. Ấy là món "Cơm Hến".
Người ta đã nói lạt như nước ốc, nước hến, vậy thì để bổ sung cho
cái "lạt" đó chỉ có cái "cay "của ớt. Không có ớt là tô cơm hến xem
như bỏ đi chẳng đáng một đồng xu. Còn nhiều món ăn đặc sệt Huế
nữa như bánh bột lọc, bánh nậm, bánh ướt nhuỵ tôm, bánh ram bánh
ít, cơm dấm nuốt vv...không món ăn nào là không có ớt đi kèm, dĩ
nhiên là không ăn chè hạt sen hồ Tịnh Tâm cùng với ớt.
Nhưng Mẹ tui lúc sinh thời, Bà ăn mít ráo ngọt lịm và dòn tan như
rứa mà Bà cũng chấm múi mít vàng ươm vào trong chén nước mắm
ớt cay. Mùi vị dĩ nhiên là có khác đi nhưng hương vị cũng độc đáo
lắm, các bạn cứ thử xem một lần cho biết ra răng.
Ớt gắn liền với Huế của tụi tui nên sở dĩ tui phải nấn ná ở lại
với quê hương gần 10 năm, sau 1975 là vì tui sợ qua Mỹ không có
ớt mà ăn. Tui ăn ớt như nhồng! Tui còn nhớ lúc còn học cấp tiểu
học trường làng, ông ngoại tui có nuôi một con nhồng, mỗi ngày
phải cho nó ăn một chén ớt hoặc tươi hoặc ớt bột. Ăn nhiều ớt
để lột lưỡi và nói được tiếng người. Và quả thật như vậy, sau một
thời gian ăn ớt, con nhồng đã nói được. Cậu tôi đã bị ông ngoại tôi
thưởng cho một tát tai là vì đã dạy cho con nhồng chào khách chẳng
lich sự tí nào.
Số là một hôm có khách đến nhà, ông ngoại tôi đang khoe với khách
con nhồng biết nói thì đột nhiên nó xổ ra một câu khiến khách phải
phì cười và thẹn đỏ mặt: "Chào khách toẹt!" (Khách toẹt là khách
chẳng ra gì, là chỉ như một món ăn dở, không ngon, chỉ muốn nhổ
toẹt ra khỏi miệng)
Nhồng ăn ớt để lột lưỡi, để nói nhiều. Như vậy, dân Huế tụi
tui ăn ớt nhiều thì có nói nhiều không hí? Ai răng tui không biết
chứ tui thì hình như nói không ít mỗi khi bạn bè bắt đúng tần số
của tui.
Ông ngoại tui thường mắng tui là:
- Cái thằng ni răng mà hắn nói không để miệng đâm da non..
Chẳng lẽ ai nói ít thì miệng nhiều da non hay răng? Tui thực
không biết! E là phải nhờ mấy nhà sinh vật học giải thích cho
điều này mới được.
Trên đây tui đã nói đến cái công dụng của ớt làm chảy nước
miếng nhiều và do đó làm thức ăn trở nên ngon miệng hơn.
Nay xin nói về những đặc tính của ớt trên phương diện y học.
Có thời gian tui làm việc ở tỉnh Bình Tuy gần căn cứ Bốn, khu
Rừng Lá trên đường từ Saigòn ra Phan Thiết, tui có dịp tiếp
xúc với các giáo viên dạy học vùng Rừng Lá này. Họ ăn ớt nhiều
đến nổi tui từng tự phụ là người Việt gốc ớt mà cũng phải ngả
mũ ra chào thua.
Họ nhậu rượu đế đổ trong thau nhựa trộn chung với nước ngọt
xá xị và mồi nhấm rượu chỉ là môt mâm trái cóc và một tô muối
ớt, ớt nhiều hơn muối. Họ ăn ớt không những để món ăn khoái
khẩu hơn mà còn dùng ớt như một phương thuốc trị bệnh sốt rét
vì người nào cũng bị chứng bệnh này hành hạ và chỉ nhờ có ớt
mà căn bệnh thuyên giảm dần dần. Chắc các bạn đã từng nghe
hai câu thơ nói về Rừng Lá:
Ngày anh đi, rừng em chưa xanh lá
Ngày anh về rừng lá đã xum xuê
Ngày em đi, anh còn như trái ớt
Ngày em về thì ớt lớn bằng khoai.
Mới đây, tôi lại đọc được mẫu tin loan báo đại học UCLA và các
khoa học gia người Nhật vừa khám phá ra ớt trị được căn bênh ung
thư tiền liệt tuyến. Các tế bào ung thư đã bị chất cay của ớt tiêu
huỷ dần dần. Thật là một tin mừng gây phấn khởi cho những con
dân gốc Huế.
Trong cảnh Cali mưa buồn nhớ mùa mưa xứ Huế, tôi thèm ăn
một tô bún bò với ớt cay xé họng và tôi lẩm cà lẩm cẩm nghĩ rằng
không biết ai là người đầu tiên tìm ra cây ớt trong rừng cây nhiệt
đới và ai là người đầu tiên nếm thử trái ớt. Không biết lúc bấy giờ
người đó có nhảy nhỏm người lên vì vị cay xé nồng của ớt và có lo
cuống cuồng vì sợ ăn nhằm chất độc không. Nếu biết được vị tiền
nhân nào tìm ra và nếm trái ớt đầu tiên trên trần thế thì tui sẽ xin
bàn dân thiên hạ tôn ông ta là vị Thần Bếp hay nói văn hoa Hán(g)
rộng thì ông ta thật xứng đáng được phong làm Trù Thần trên cõi thế.
Hoan hô ớt!
Thứ Bảy, 27 tháng 11, 2010
Thổ ngữ tiếng Huế...
Tiếng Huế không phải chỉ đơn giản tê mô răng rứa như thỉnh thoảng vẫn xuất hiện trong thơ, nhạc và văn xuôi như những nét chấm phá rất dễ thương để nói về người và xứ Huế; mà nhức đầu, phức tạp, nhiêu khê, đa dạng và phong phú hơn nhiều. Tùy vào từng địa phương của Huế, cách phát âm có chỗ nặng nơi nhẹ; lúc thanh tao khi khó hiểu.
Xin được đơn cử một câu rất Huế, một tâm sự kín đáo giữa hai o đang tuổi lấy chồng: "Tau noái với mi ri nì, en còn ở dôn, rứa mà bữa tê tề, en chộ tau phơi ló ngoài cươi, en kiêu tau vô, bồn tau lên chờn, cái ba... en đẩn. Mi quai chướng khôn ?" Sở dĩ tâm sự kín đáo vì đây là chuyện riêng của hai người, nói bằng thổ ngữ, nhưng ý nghĩa thì như vầy: "Tao nói với mày như vầy, ảnh còn ở rể, vậy mà hôm kia kìa, tao đang phơi lúa ngoài sân, ảnh kêu tao vào, bồng tao lên giường, rồi ảnh... Mày coi có kỳ không ?".
Chữ đẩn, ngoài ý nghĩa một trong bốn cái nhất của đời người trên còn có nghĩa như ăn: "Đẩn cho bưa rồi đi nghể". Ăn cho no rồi đi ngắm gái.
Đẩn cũng có nghĩa là đánh đòn: "Đẩn cho hắn một chặp!" (Đục cho hắn một hồi!). Chữ đẩn còn được phong dao Huế ghi lại:
Được mùa thì chê cơm hẩm
Mất mùa thì đẩn cơm thiu
Xin được thêm một câu ngăn ngắn gần như rặt thổ ngữ của Huế mà, nếu không có... thông dịch viên gốc Huế hoặc Huế rặt, e rằng khó mà.. đã thông cho được:
"Thưa cụ mự, bọ tui vô rú rút mây về đươn trẹt, bọ tui chộ con cọt, rứa mà nỏ biết ra răng, con cọt lủi, lủi năng lắm, bọ tui mờng rứa thê ! Chừ mạ tui cúng con gà, cụ mự qua chút chò bui." (Thưa cậu mợ, bố con vào rừng rút mây về đan rá (hoặc nia), bố con thấy con cọp, vậy mà chẳng biết sao; con cọp chạy trốn, chạy lẹ lắm; bố con mừng quá. Giờ mẹ con đang cúng con gà, cậu mợ qua chút xíu cho vui) Khó hiểu chưa ? !
Thổ ngữ ở Huế thì nhiều lắm và cũng lạ lắm, và vì tiêu đề của bài này là lan man về những thổ ngữ đó, nên xin được nhẩn nha tìm lại chút ít những gì đã mất và ôn lại những gì đang còn xài. Vì trang báo có hạn, không thể giải thích từng chữ một, nên trong bài này, xin được ghép thổ ngữ thành từng câu, từng nhóm thổ ngữ, vừa đỡ nhàm chán lại ra câu ra kéo, có đầu có đuôi hơn:
"Đồ cái mặt trỏm lơ mà đòi rượn đực!" (Thứ mặt mày hốc hác mà đòi hóng trai) Độc chưa ? O mô mà lỡ mang cái nhãn không cầu chứng tại tòa này chắc phải ở giá hoặc phải chọn kiếp... tha hương may ra mới có được tấm chồng. Chữ rượn gần đồng nghĩa với câu con ngựa Thượng Tứ, câu này cũng độc không kém. Thượng Tứ là tên gọi của cửa Đông Nam, bên trong cửa này có Viện Thượng Kỵ gồm hai vệ Khinh kỵ vệ và Phi kỵ vệ chuyên nuôi dạy ngựa cho triều đình Huế. Vì thế gọi ngựa Thượng Tứ có nghĩa bóng bảy xa xôi rằng con đó nó ngựa lắm, nó đĩ lắm, nhưng thâm thuý hơn nhiều
"Mệ cứ thộn ló vô lu, còn lưa, tui này lại !" (Bà cứ dồn lúa vô khạp (cho đầy), còn dư ra, con mua lại). Chữ lưa cũng còn có nghĩa là còn đó như trong hai câu trong bài ca dao Huế:
Cây đa bến cộ (cũ) còn lưa (còn đó)
Con đò đã khác năm xưa tê rồi
Này lại (mua lại); tiếng này thường chỉ dùng nơi xóm giềng, thân cận; tương đương với chữ nhường lại, chia lại, mua lại. Chứ không dùng ở chợ búa hoặc nơi mua bán um sùm
Đập chắc lỗ đầu, vại máu! (Đánh nhau bể đầu, toé máu!)
Thương bọ mạ để mô ? Để côi trốt! Chắc chúng ta cũng thường hay hỏi lũ con lúc chúng vừa tập nói, vừa biết tỏ tình thương đối với cha mẹ, câu này có nghĩa: "Thương bố mẹ để đâu ? Để trên đầu!" Rồi đưa ngón tay chỉ chỉ, miệng cười cười, nghe hoài không biết chán
Tra trắn rứa mà còn ở lỗ! (Chững chạc, già đầu vậy mà còn cởi truồng). Ở lỗ cũng xuất hiện trong câu phương ngôn "ăn lông ở lỗ" hoặc "con gái Nam Phổ, ở lỗ trèo cau!"
Lên côi độn mà coi (Lên trên đồi mà xem.) Chữ coi về sau này đã phổ biến đến nhiều địa phương khác.
Mự đừng có làm đày! (Mợ đừng có lắm lời, thày lay). Riêng chữ cụ mự thường là dùng cho cậu mợ. Người Huế ít dùng chữ cụ để chỉ người già vì đã có chữ ôn hay ông. Điển hình như cụ Phan Bội Châu với chuỗi ngày "an trí " ở Huế, dân Huế đã có tên gọi ông già Bến Ngự, hoặc trong ca dao Huế, khi nói đến cụ Phan:
Chiều chiều ông Ngự ra câu
Cái ve cái chén cái bầu sau lưng
Chộ chưa ? Nỏ chộ ! (Thấy chưa ? Không thấy !) Nỏ là lối phủ nhận gọn gàng pha chút giận hờn, chanh cốm như chả biết, chả ăn, chả thèm vào ! Hắn mô rồi ? Nỏ biết ! Chữ nỏ biết ở đây pha chút, chút xíu thôi sự phủi tay về cái chuyện hắn đang ở đâu ! Tục ngữ Huế: Có vỏ mà nỏ có ruột.
Khóc lảy đảy, không biết ốt dột ! (Khóc ngon khóc lành, không biết xấu hổ!).
En dòm tui, tui dị òm ! (Anh ấy nhìn tôi, tôi thẹn quá !) Chữ òm người Huế vẫn thường dùng để bổ túc cho cái phủ định của mình: Ngon không ? Dở òm !
O nớ răng mà không biết hổ ngươi ! (Cô đó sao mà không biết mắc cỡ !) Hổ ngươi cũng là tên của cây trinh nữ, cây mắc cỡ. Cũng như xấu hổ, thẹn, mắc cỡ thì ốt dột, dị và hổ ngươi có nghĩa khác nhau tuy chút ít nhưng tinh tế, nhẹ nhàng
Chiều hắn cho gắt, hắn được lờn: Chiều nó cho lắm vào, nó làm tới. Mời ôn mệ thời cơm: Mời ông bà dùng cơm.
Mệ tra rồi mệ chướng: Bà ấy già nên sinh tật. Chữ chướng, người Huế cũng thường dùng để chỉ mấy đấng nhóc tì khóc nhè, bướng bỉnh hoặc các vị có lối nói, cách hành xử ngang như cua.
Ăn bụ cua cho hết đái mế: Ăn vú cua cho hết đái dầm. Chữ bụ cũng dành cho người và các loài có vú khác. Bụ mạ là vú mẹ, bọp bụ là bóp.
Bữa ni răng tau buồn chi lạ, buồn dễ sợ luôn ! (Sao hôm nay tao buồn quá, buồn quá trời luôn !). Dễ sợ, với người Huế không đơn thuần ở nghĩa thấy mà ghê ! hoặc khủng khiếp quá !, mà còn có nghĩa, thí dụ: Con nớ đẹp dễ sợ !: Con bé đó đẹp quá trời !
Răng mà cú tráu rứa tê ?: Sao mà cộc cằn quá vậy ? Chữ cú tráu nếu phát âm đúng với giọng Huế thì nghe nặng hơn chữ cộc cằn nhiều, có lẽ phải gom thêm mấy chữ như thô lỗ, vũ phu thì mới lột tả được hết nghĩa.
Huế nói trại
Nói trại là nói sai giọng, không đúng âm theo giọng viết, nói trại đôi khi cũng dùng trong trường hợp "nói khác đi, nói cách khác". Cách nói bị biến âm này rất phổ thông ở Huế, nhất là dân cư vùng biển. Nói trại làm cho âm thanh nặng hơn, khó hiểu hơn.
Con tâu tắng ăn ngoài bụi te tức là con trâu trắng ăn ngoài bụi tre. Tời tong tẻo, nước tong veo: Trời trong trẻo, nước trong veo.
Hầu hết những từ bắt đầu bằng "nh" đều được người Huế nói trại thành "gi": già (nhà). Giớ già giớ vợ ở già: Nhớ nhà nhớ (luôn) vợ ở nhà!
Những từ bắt đầu bằng "s" thì nói trại ra thành "th": Ăn thung mặc thướng: Ăn sung mặc sướng hoặc Thầy gòn là Sài gòn, hoặc nữa: Noái năng thòng phẳng: nói cho sòng phẳng, rõ ràng. Lối phát âm của người Huế không xác định được âm cuối là "n" hay "ng": Con thằng lằng chép miệng thở thang!: Con thằn lằn chép miệng thở than!
Những chữ có âm "o" thường nói trại ra "oa": Xa voài voại, noái khôn tới, với khôn được, ngó khôn chộ: Xa vòi vọi, nói không tới, với không được, nhìn không thấy! Hoặc nữa: Đi coai boái, thầy boái noái đi coai cái voài voai: Đi coi bói, thầy bói nói đi coi cái vòi voi.
Những chữ có âm "ô", người Huế thường nói trại thành âm "u": Thúi trong thúi ra: Thối từ trong ra ngoài. Túi lửa tắt đèn: Tối lửa tắt đèn.
Nậy rồi mà mũi rãi thò lò !: Lớn đầu mà mũi rãi lòng thòng ! Chữ thò lò cũng đã góp mặt trong ca dao Huế:
Học trò thò lò mũi xanh
Cầm cái bánh đúc chạy quanh nhà thầy !
Vô rú mà đốn săng: Vào rừng mà đẵn gỗ. Săng cũng đã góp mặt trong mấy câu hò giã gạo với lối đối đáp rất "văn hóa" của Huế:
Bên nữ:
Lẻ củi săng chẻ ra văng vỏ
Bỏ vô lửa đỏ than lại thành than
Trai nam nhân chàng mà đối đặng
Thiếp xin kết nghĩa tào khang trọn đời
Nghĩa: Cây củi gỗ chẻ ra văng (Văn) vỏ (Võ), thảy vô lửa thì thành (Thành) than (Thang). Cái kẹt là ý lại thâm hậu, cao xa hơn nhiều: Văn, Võ Thành, Thang là những vị vua thời Tam Đại, Tây Châu bên Tàu.
Bên Nam:
Trâu ăn giữa vạc ló lỗ
Đã ngụy chưa tề !
Nam nhân chàng đã đối đặng
Thiếp đã chịu theo chàng hay chưa ?
Nghĩa: Con trâu (Trâu) ăn giữa vạt lúa trổ (Lỗ), sao kỳ quá vậy ? Ý ư, cũng điển tích như ai: Trâu, Lỗ, Ngụy Tề là bốn nước thời Xuân thu Chiến Quốc cũng ở bên Tàu luôn. Còn hai người có "tào khang" với nhau được hay không là chuyện... của họ
En trên rầm thượng bổ xuống, nằm ngay đơ cán cuốc, phải địu đi nhà thương !: Anh ấy té trên rầm thượng té xuống, nằm cứng như cán cuốc, phải bồng, cõng đi nhà thương ! Đến đây thì kẻ hèn này hơi kẹt. Rầm thượng là gác lửng, hay kho chứa bên dưới mái nhà ? Ở Huế, rầm thượng không phải là chỗ ngủ nghỉ mà là nơi chứa những đồ gia dụng đáng giá nhưng phải cỡ nhỏ, vì không có lối lên. Muốn lên rầm thượng, phải bắc thang; thân phụ tôi đã dùng rầm thượng để cất giữ những đồ cổ vừa phải, không qúy lắm. Còn nếu qúy nữa thì bỏ vào rương xe, một thứ tủ thấp đóng bằng gỗ thật dày, có nắp đậy, có luôn 4 bánh xe để đẩy vì khiêng không nổi, nặng quá mà ! Mặt bằng của rương xe là cái đi-văng, tối tối cứ trải chiếu nằm ngủ trên đó là khỏi lo trộm đạo
Nước mắt chặm hoài không khô, răng khổ ri nì trời !: Nước mắt lau, thấm hoài không khô, sao khổ vậy nè trời ! Chữ chặm cũng đã lãng đãng trong mấy câu hò giã gạo, mà vì não nùng ai oán quá, nghe hò xong e phải.. bỏ chày luôn:
Hai hàng nước mắt như mưa
Cái khăn lau không ráo
Cái áo chặm không khô
Công anh đổ xuống ao hồ
Quì thưa bẩm dạ thuở mô đến chừ !
Mặt mày chạu bạu, ai chịu cho thấu !: Mặt mày một.. đống, ai chịu cho nổi ! Chữ thấu cũng có nghĩa là tới: Kêu trời không thấu: Kêu không tới trời; Vô thấu trong Thầy gòn: Vô tuốt trong Sài gòn.
Mả cha cái thằng vô hậu: Tiên sư cái thằng đoảng
Ăn trầu cơi thiếc: Ăn trầu (để) trong hộp, quả bằng thiếc. Cái cơi thiếc cũng đã đi vào tục ngữ Huế: Uống nước chè tàu, ăn trầu cơi thiếc.
"Mả cha mi" là tiếng chửi, lời nhiếc mắng rất thông dụng ở Huế, đồng nghĩa với "mồ cha mày". Lối chửi này ít thông dụng ở những địa phương khác.
Đi xe hay đi chưn xuống rứa ?: Đi xe hay đi bộ xuống đây vậy ?
Túi thùi thui, có chộ chi mô !: Tối quá, không thấy gì hết !
Rạt gáo rồi mà còn làm le làm gió !: Cạn túi rồi mà còn làm bảnh, làm sang !
Ăn đoại cơm hến, uống đoại nước chè: Ăn tô cơm hến, uống bát nước chè (xanh). Tục ngữ Huế: Ăn lưng đoại, làm đoại lưng (làm muốn gãy lưng !).
Cơm hến, chẳng có chi cầu kỳ, nhưng nhiều mùi vị với lưng bát cơm nguội, rau sống, thân chuối non, rau mùi xắt nhuyễn, nước luộc hến chan vô, cho chút xíu ruốc, bỏ chút ít hến xào, thêm vài trái ớt, đúng với cái ít ỏi của Huế.
Bữa ni đi kéo ghế: Hôm nay đi ăn nhà hàng. Người Huế, nhất là ở thôn quê, thường dọn cơm trên phản, trên tấm ngựa. Không dọn trên bàn nên khỏi có cái vụ kéo cái ghế mà ngồi vào bàn. Vì thế, mỗi khi được dịp đi ăn ở quán, ở nhà hàng thì gọi là đi kéo ghế.
Huế làm đày làm láo, Huế nói chữ
Vâng, người Huế, nhất là mấy o, mấy mệ thì ưa ăn nói văn hoa chữ nghĩa, ưa đa sự đa lự, ưa... làm đày làm láo, tức ưa xảnh xẹ, ưa nói lý nói sự, nói dông nói dài. Thêm vào đó, phải nói cho hay, khi trầm khi bổng, lúc nhặt lúc khoan thì "tụng" mới phê ! Cái phong cách noái lặp đi lặp lại của người Huế vừa như là một cách nhấn mạnh, vừa có vẻ dạy đời lại vừa mang nhiều ý nghĩa khác, xa xôi hơn, thâm thúy hơn nữa.
Để mô tả cái sự lanh chanh lắm, xí xọn quá, lu bu lắm. Người Huế ít khi dùng chữ lắm hay chữ quá mà dùng điệp ngữ: Cái con nớ, lanh cha lanh chanh ! Mấy mụ o giọn (nhọn) mồm tức mấy bà chị chồng mỏng mép của Huế vẫn đôi khi chê em dâu: Răng mà hắn vô phép vô tắc rứa hè !: Sao mà nó vô phép quá vậy!
Về màu sắc, người Huế thường có lối nói điệp ngữ để nhấn mạnh: xanh lè lè, đỏ lòm lòm, đen thùi thui, vàng khè khè, tím giắt giắt (tím ngắt).
Bởi, cà rịch cà tang rứa mà đoài làm giôn !: Vậy đó, tà tà, lè phè vậy mà đòi làm rể ! Còn nữa, để than trách ông trời sao mưa lâu quá, mấy o ngồi chỏ hỏ trong nhà dòm ra, chép miệng than dài than ngắn: Mưa chi mưa mưa thúi đất thúi đai !.
Một bà mẹ tụng cô con gái, một bà chị cả mô-ran cô em thứ mà nghe cứ như là đang đọc một bài đồng giao với vần điệu, trầm bổng cũng là một trong những sinh hoạt dưới mái gia đình: Mi phải suy đi nghĩ lại cho kỹ ! Mi coi, là con gái con lứa, đừng có đụng chăng hay chớ, cũng đừng lật đa lật đật, cũng đừng có mặt sa mày sỉa. Bọ mạ thì quần ống cao ống thấp, tất ba tất bật để nuôi mình. Tau thấy mi rứa, tau cũng rầu thúi ruột thúi gan !
Cái thông điệp cho thằng em trai thì: Năm tể năm năm tê, mi còn lẩm đa lẩm đẩm, mũi rãi thò lò, chừ mi nậy rồi, phải biết ăn biết noái, biết goái biết mở, vô khuôn vô phép. Chớ mai tê mốt nọ mi nên vai nên vế, nên vợ nên chồng, làm răng mi bông lông ba la hoài như cái đồ trôi sông lạc chợ cho được ?!
Mấy ôn, khi giáo huấn con cháu, vẫn thường trích dẫn ca dao, tục ngữ để đệm thêm cho ý tưởng của mình: Đó, mi thấy đó. Ai ơi chớ phụ đèn chai, thắp trong Cần Chánh rạng ngoài Ngọ Môn. Mi đoảng, mi vô hậu, được bèo quên rá, được cá quên nơm; thì mi lấy ai mà bầu bạn, lấy mô mà tri kỷ !
Xa Huế đã lâu lắm rồi, từ ngày vừa biết tập tành đi nghễ mấy o Đồng Khánh, vừa ngấp nga ngấp nghé muốn vào (nhưng sợ bị chưởi) nhấm nháp thử ly cà phê đen sánh của cà phê Phấn, nơi mà các anh hùng trong thiên hạ vẫn tấp nập ra vào; và cũng vừa biết để dành tiền để mua những tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn tại nhà sách Ưng Hạ. Phong cách Huế không ít thì nhiều cũng đã phôi pha, thổ ngữ Huế cũng không mấy khi có dịp để dùng lại cho đỡ giớ, cho khỏi quên; thành ra cũng xao lãng đi nhiều.
Trong cái xao lãng bỗng có ý nghĩ muốn tìm lại, noái lại tiếng noái của thời cũ rích cũ rang nhưng đằm thắm đó. Cho nên chỉ xin được ghi lại đây những gì còn nhớ mài mại, để gọi là khơi lại chút âm thanh của những ngày xưa cũ.
Phan Thịnh
Thứ Năm, 25 tháng 11, 2010
Những bài hát về Mùa thu khi đông đang về
"Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đámmây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường… Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và đầy giá lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm Nay Tôi Đi Học..." Tôi còn nhớ mãi bài "Tôi đi học" của nhà văn Thanh Tịnh hồi mới lên trung hoc đệ nhất cấp. Do đó mùa thu vẫn là đề tài được bàn tán muôn thủa bởi những nhà văn, nhà thơ hay những nhạc sĩ trong kho tàng văn chương hay âm nhạc Việt Nam . Người ta ca tụng mùa thu, bối cảnh mùa thu được dàn dựng trong những tác phẩm của họ như những không gian lá vàng rơi hay những chia ly buồn bã. Tôi yêu mùa thu từ bản chất, yêu cả những bản nhạc mùa thu. Trong khuôn khổ hạn hẹp của bài này, tôi cố gắng đưa ra một số bài tiêu biểu của những nhạc sĩ đã sáng tác những tác phẩm về mùa thu. Tôi vốn thích bản thu ca tiền chiến của nhac sĩ Đoàn Chuẩn - Từ Linh. Cuối thập niên 50 khi tôi còn học tiểu học, thầy giáo của tôi di cư từ miền Bắc vào. Ông có một tâm hồn nhạc sĩ, chính ông đã để lại trong tôi một ấn tượng thật tuyệt vời của một mùa "Thu quyến rũ":
"Anh mong chờ mùa thu
Trời đất kia ngả màu xanh lơ
Đàn bướm kia vui đùa trên muôn hoa
Bên những bông hồng đẹp xinh
Anh mong chờ mùa thu
Dìu thế nhân vào chốn thiên thai
Và cánh chim ngập ngừng không muốn bay
Mùa thu quyến rũ anh rồi …"
Thu Quyen Ru-Anh Tuyet
Trong bối cảnh buồn bã nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã nói về mùa thu của ông qua đi khi "Nhìn những mùa thu đi". Thu đi và để lại cho chúng ta những chia ly, những nuối tiếc sầu rơi, những ý nghĩ riêng tư man mác trong tâm hồn:
"Nhìn những mùa thu đi
Em nghe sầu lên trong nắng
Và lá rụng ngoài song
Nghe tên mình vào quên lãng
Nghe tháng ngày chết trong thu vàng ..."
Nhìn những mùa thu đi - Khánh Ly
Khi người ta yêu nhau thì mọi thứ đều từ thiện, người ta sẽ cho nhau tất cả, từ những tháng ngày, những tặng phẩm quý báu, cho con tim, cho nhau kỷ niệm, ... với nhạc sĩ Ngô Thụy Miên, ông cho người tình cả một bầu trời mùa thu tuyệt vời về nhạc và lời ca . Bài "Mùa thu cho em" được ra đời năm 67. Chính bài ca này đã đánh thức tôi những cái đáng yêu của một mùa thu tình ái:
" Em có nghe mùa thu mưa giăng lá đổ
Em có nghe nai vàng hát khúc yêu đương
Và em có nghe khi mùa thu tới
Mang ái ân mang tình yêu tới
Em có nghe, nghe hồn thu nói
Mình yêu nhau nhé ..."
Mùa Thu Cho Em
Mùa thu là mùa của nỗi buồn, của chia tay, của những mối tình dang dở. Ở tuồi còn đi học, những nam sinh vẫn có những kỷ niệm đến đứng ngẩn ngơ ở cổng trường con gái như những cửa trường Gia Long, Nguyễn Bá Tòng, Sương Nguyệt Ánh hay Trưng Vương. Để rồi "Em tan trường về, mưa bay mờ mờ, anh trao vội vàng chùm hoa mới nở, ép vào cuốn vở”. Người con gái như đóa hoa hồng, hoa pensé, hoa mimosa hay hoa phượng hồng như môi em. Một nụ hôn đầu ngất ngây để rồi nhung nhớ mãi mãi về sau. Mùa Hạ đến rồi mối tình chia ly vì lý do nào đó… Để rồi khi sang mùa thu, mùa tựu trường cô gái Trưng Vương nhìn lá vàng rơi ngoài đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, theo gió heo may vi vu để nhớ đến người bạn trai xưa với nụ hôn đầu nồng nàn. Nhà thơ nữ Nguyễn Thị Lệ Thanh đã sáng tác bài thơ "Trưng Vương, khung cửa mùa thu", và nhạc sĩ Nam Lộc đã soạn thành một ca khúc ghi dấu những mối tình nhẹ nhàng, nỗi bâng khuâng, những xao xuyến của tuổi học trò:
"Tim em chưa nghe rung qua một lần!
Làn môi em chưa hôn ai cho thật gần
Tình trần mong manh như lá me xanh Ngô ngác rơi nhanh
Thu giăng heo may che bóng cây lạnh này
Người cho em nghe câu nhớ thương từng ngày…
Người mang cho em quen môi hôn ngọt mềm
Tình cho tim em rung những đêm lạnh lùng…
Nắng vấn vương nhẹ gót chân
Trưng Vương vắng xa anh rồi
Mùa thu đã qua một lần
Chợt nghe bâng khuâng lá rơi đầy sân...”
Trung Vuong Khung Cua Mua Thu
Mùa thu của những tình tự yêu đương, đã lôi cuốn người nhạc sĩ đã dùng bối cảnh thu ca như trong nhiều tác phẩm của ông về mùa thu, Phạm Anh Dũng đã tâm sự những nồng nàn, những cụm từ truyền cảm của ông qua bài "Gọi mùa thu mơ":
"Anh gọi mùa thu mơ
Một sớm thu sương mờ
Nai vàng đạp trên lá
Bước từng bước xa xa...
Anh gọi mùa thu mơ
Trời sớm sông không bờ
Lá vàng rơi lác đác
Dịu dàng cơn gió bay
Anh hẹn mùa thu sang...
Gọi Mùa Thu Mơ (Phạm Anh Dũng) Xuân Thanh
Mùa thu để chúng ta ru người tình. Khi mùa thu tới người nhạc sĩ hát khúc thu ca để dìu người yêu vào giấc điệp bình yên, Đức Huy đã ru người tình của mùa thu như sau:
"Hôm mùa thu gió hát bài ca cũ
Mùa thu lá vàng bay
Anh ru em ngủ
Bài ca dao ta vẫn hát khúc ấu thơ
Nắng vàng ấm suối nước dệt mây thu
Ngập ngừng trôi giấc mơ
Anh ru em ngủ
Dài cơn mê thương yêu ấy
Những ngày còn ái ân..."
Còn mùa thu của Từ Công Phụng thì như thế nào? Ông ru người yêu về với mùa thu dịu dàng, du dương với những lối ru nhẹ nhàng, dấu yêu của mây ngàn bay, hãy nghe bài "Mùa thu mây ngàn":
"Buồn vương mây ngàn giăng khắp lối
Mùa thu bơ vơ đến bên trời
Ru tóc em suối nguồn
Gọi hồn trong gió thu buồn
Ngày mai chúng mình xa nhau rồi
Cầm tay em nhìn sao không nói ..."
Mùa Thu mây ngàn - Tuấn Ngọc & Thái Hiền
Tuần rồi tôi tình cờ được nghe bài "Dáng thu", người nhạc sĩ đã âu yếm so sánh vẻ đẹp kiều diễm, đài các của mùa thu như người thiếu nữ trong những dòng nhac thu ca . Nhật Vũ đã dìu người tình qua vũ điệu Tango:
"Dáng thu vơi buồn như thương nhớ ai
Dáng thu về đây mùa thu ơi ai có hay
Ta vẫn ngắm mây trời
Thương về tóc buông lơi
Thương nhớ mãi nụ cười
Bờ môi xinh như mộng
Từ ngày em đi
Đã bao lần thu về rồi ?
Dáng Thu Về
Lại một tình cờ khác tôi lắng nghe tiếng đàn của một người nhạc sĩ Mai Đức Vinh bên phương trời Canada, ông cho chúng ta nghe một bản tình ca quyến luyến và nhiều vương vấn của người thiếu nữ trong giấc mơ thu của ông "Thu về hôm nao", thơ Pham Anh Dũng:
".....Này em nhé mắt nâu qua rừng thu
Trong bóng thời gian nhả tiếng sương mù
Chiều rơi lá chín thương em hương lụa
Anh nhặt thu về xây tím áng thơ
Chiều sao hoang vắng vàng phai sắc lá
Anh viết tình thu trên môi em thôi ."
Một chiều thu đến để rồi Phan Bá Chúc đã làm thơ, đã phổ nhạc từ khung trời yêu thương Đà Lạt qua ca khúc thật trữ tình và đáng yêu, "Tôi có em chiều thu":
"Chiều phai mây trắng trôi
Trôi qua dòng đời muộn phiền
Chiều nay tôi thấy em gọi nắng lên
Chiều thu tôi em tôi em như một tình cờ vừa đến
Bàn chân em e thẹn, bàn tay em thơ dại
Vội vàng con chim bé vỗ cánh bay lên cao
Đời cho tôi có em trong một chiều không mong đợi
Đời cho tôi có em trong thu về hương tình tới
Bàn tay thôi e thẹn, bàn chân thôi thơ dại
Chiều nay con chim én líu lo thương đời”
Mùa thu 75 đã làm bao nhiêu con tim điêu đứng, Ngô Thụy Miên khi ra xứ ngồi đã chia sẽ tâm tư của ông qua bài "Thu Sàigòn" như sau:
"Em hỏi anh mùa thu Saigòn
Nắng còn vương vương trên hàng phố vắng
Em hỏi anh mùa thu Saigòn
Nước mắt bây giờ có như mưa tuôn..."
Thu SÀI GÒN
Từ miền trung nam nước Mỹ, nhac sĩ Đỗ Duy Thụy đã bộc lộ tâm sự của ông khi mùa thu về ta.i Houston với những nhung nhớ mùa chia ly của tình yêu trong bài "Thu vàng nổi nhớ":
"Theo bước chân em đi thu vàng
Tình ơi sao đến muộn màng
Nổi nhớ mang theo cung đàn
Buồn vương trên bao tháng năm
Đời một rừng thu hoang vắng
Mơ em là nắng xuân sang
Hồn anh mộng cũ chưa tan
Tình theo lá thu vàng"
Trong nỗi khắc khoải khôn nguôi, nhạc sĩ Ngô Thụy Miên đã tưởng nhớ dến mùa thu năm cũ khi nhìn về người tình
Cũng vì mùa thu năm cũ vơi đầy nhung nhớ, Ngô Thụy Miên âu yếm nhìn vào ánh mắt người tình với bài "Thu trong mắt em":
"Rồi một mùa thu tới cho mắt em buồn trong nắng
Mầu tình hôn tóc rối ru má em hồng say đắm ...
Ô hay mùa Thu lại về cho mình giăng hẹn hò
Gọi tên nhau khi chiều đến
Mây Thu vấn vương đan ngập lối đi
Ái ân theo hồn vút cao Vết mơ tình xõa tay mềm..."
Thu Trong Mắt Em (Phạm Anh Dũng) Quỳnh Lan hát (Vinh Nguyễn"
Nếu mùa thu được dùng như biểu tượng của sự ra đi hay sự chia ly để rồi dứt khoát một cuộc tình buồn não nề nào đó. Trong bối cảnh buồn của mùa thu ở vườn Luxemburg với ngập xác lá vàng rơi. Nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu đã viết bài "Mùa thu không trở lại" để nói lên nỗi sầu tan tác của ông:
"Em ra đi mùa thu, mùa thu không trở lại
Em ra đi mùa thu, sương mờ giăng âm u
Em ra đi mùa thu, mùa thu không còn nữa
Đếm lá mùa thu, đo sầu ngập tim tôi…"
Mua Thu Khong Tro Lai - Si Phu
Cũng như sự chia ly từ mùa thu dang dỡ, người yêu sẽ tìm quên lãng mùa thu sầu úa vì tình đã chết trong lòng khi niềm cô đôn chợt đến mà nhạc sĩ Nam Lộc ghi nhận qua bài "Anh đã quên mùa thu":
"Bây giờ là mùa thu
Chiều vắng khói sương mù
Hàng cây khô sầu úa
Hiu hắt đứng trong mưa
Mưa như lệ tình xưa
Lệ thấm mãi cho vừa
Lệ thương hoa phượng rũ
Em có nghe mùa thu ...
Anh Đã Quên Mùa Thu - Nam Lộc, Tùng Giang-Tiếng hát:Dalena
Mùa thu về với khung trời Paris của Cung Trầm Tưởng, nhà thơ này đã kể về chuyện tình mùa thu với nàng kiều nữ tóc nâu người địa phương bên vườn Luxemburg. Bài thơ "Mùa thu Paris" đuoc nhạc sĩ Pha.m Duy phổ thành một nhạc phẩm đã đi vào dĩ vàng của Saigon một thời xa xưa:
"Mùa thu Paris, trời buốt ra đi
Hẹn em quán nhỏ, hẹn em quán nhỏ
Rượu rưng rưng ly đỏ tràn trề ...
Mùa thu âm thầm bên vườn Lục Xâm
Ngồi quen ghế đá, ngồi quen ghế đá
Không em buốt giá từ tâm
Mùa thu nơi đâu, người em mắt nâu
Tóc vàng sợi nhỏ, tóc vàng sợi nhỏ
Chờ mong em chín đỏ trái sầu.."
MÙA THU PARIS
Từ một phương trời nào đó Phạm Anh Dũng âu yếm thì thầm với người em gái mắt nâu của mình bằng những lời yêu dấu để thăm chừng khi nào mùa thu của tình yêu thực sự đến. Nếu Phạm Trọng Cầu hay Trịnh Công Sơn nhìn mùa thu đi với nỗi niềm tiêu cực thì tương phản thì Phạm Anh Dũng lại nhìn mùa thu ở khía cạnh tích cực. Nào chúnh ta hãy nghe lời hát của Pha.m Anh Dũng qua bài "Mùa thu về chưa em nhỉ":
"Này yêu dấu, mùa thu về chưa nhỉ
Gọi mây trôi em thả tóc bay đi
Hạt long lanh rơi nhạt lá thay mầu
Tình xanh biếc, xanh mầu đôi mắt nâu ...
Này yêu dấu, mùa thu về lá đổ
Dòng sông xanh trôi về mãi xa xôi
Chiec La Thu Phai - Trinh Cong Son