Thứ Sáu, 22 tháng 4, 2011

Dân chúng các miền của Việt Nam mơ gì?


 

Ước mơ của người Thanh Hoá

Lá rau má to bằng lá sen

 Ước mơ của người Thái Nguyên

Búp chè xanh to bằng bắp chuối

 Ước mơ của người Hà Nội

Giờ cao điểm không bị tắc đường

 Ước mơ của người Hải Dương

Bánh đậu xanh to bằng cái ghế

 Ước mơ của người xứ Huế

Nước sông Hương trở thành nước hoa

 Ước mơ của người Khánh Hoà

Quả nho to bằng quả bóng

 Ước mơ của người Ninh Thuận

Con cá trắm bằng con cá cơm

 Ước mơ của người Nghệ An

Nhà của Choa ở gần lăng Bác

 Ước mơ của người Đắc Lắc

Giá cà phê càng ngày càng lên

 Ước mơ của người Hưng Yên

Cả Nàng ta không còn Lói ngọng

 Ước mơ của người Nam Định

Mỗi tháng một phiên chợ Viềng

 Ước mơ của người Thái Bình

Xoong nấu cháo là xoong chống dính

 Ước mơ của người Hà Tĩnh

Có đèo Nghếch thay cho đèo Ngang

 Ước mơ của người Bắc Giang

Vải Lục Ngạn không còn vị chát

 Ước mơ của người Vĩnh Phúc

Đi tắm không phải xin xà phòng

 Ước mơ của người Hải Phòng

Cầu bê tông thay cho cầu đất

 Xong nhà máy lọc dầu Dung Quất

Là ước mơ của người Quảng Ngai

 Ước mơ của người Hà Tây

Món thịt cầy xuất ra thế giới

 Ước mơ của người Đồng Hới

Kẹo Cu Đơ càng ngày càng giòn

 Ước mơ của người Sài Gòn

Bọn quan tham mang đi xử bắn!

 …

 Sưu tầm

Chủ Nhật, 17 tháng 4, 2011

Trăng là gì?

Gia đình tôi với gia đình “hắn” là chỗ thân tình.
 Cách đây khoảng chục năm, nhân dịp tôi đến khám mắt tại bệnh viện hắn làm việc, hắn say sưa khoe với tôi về nguồn thu nhập hậu hĩnh kiếm thêm từ việc khám và giải phẫu mắt ngoài giờ của mình. Bất ngờ, tôi đặt ra một câu hỏi, chẳng ăn nhập gì đến câu chuyện hắn say sưa: “Có bao giờ ông dành thời gian ngắm trăng với vợ, con không? Đến lượt tôi bất ngờ vì câu trả lời của hắn: “Trăng là gì?”.

Về nghề nghiệp hắn là bậc cao thủ trong làng chuyên khoa mắt của Sài Gòn. Bệnh nhân của hắn thuộc loại “thứ dữ”. Hắn có nhiều mối quan hệ xã hội “có số, có má”. Do vậy đồng nghiệp và Ban giám đốc bệnh viện, nơi hắn làm việc, nể hắn một phép. Tên tuổi của hắn đã giúp bệnh viện ăn nên làm ra, chuyên khoa mắt lúc nào cũng chật cứng người chờ đợi. Ai muốn được hắn trực tiếp khám và mổ, phải đăng ký trước, rất lâu. Số tiền chi ra cho những lần khám hoặc mổ đó, so với mặt bằng giá ở các bệnh viện khác, cao hơn rất nhiều. Thế nhưng lịch khám của hắn lúc nào cũng dày đặc. Người ta nói với nhau, “được bác sĩ (hắn) đụng tay vào thì dù mắt đang không thấy đường cũng sáng lại”.
Hồi còn đi học phổ thông, tôi với hắn ở chung một quận, quận Nhì. Giải phóng vô, khu vực này sát nhập vào quận Nhất. Tôi với hắn bằng tuổi nhau, nhưng hắn sanh sau tôi tám tháng, vì vậy sau này khi hắn lập gia đình và có con, hắn dạy tụi nhỏ gọi tôi bằng bác, bác gái. Nhưng trong giao tiếp hắn gọi tôi bằng “bà”, tôi gọi hắn bằng “ông” và chúng tôi xưng “tui” với nhau.
Tôi quen hắn và vợ hắn lúc chúng tôi cùng sinh hoạt trong Ban liên lạc học sinh cùng lớp, hắn làm trưởng ban, tôi làm phó ban, vợ hắn (lúc bấy giờ nó chưa quen) là một trong những thành viên. Sáng thứ bảy nào Ban liên lạc của chúng tôi cũng gặp nhau tại một nhà hàng cà phê trên đường Điện Biên Phủ, quận Ba. Chủ nhà hàng này cũng là thành viên trong Ban liên lạc, nhờ vậy chúng tôi ăn uống ít khi phải trả tiền, nếu trả cũng chỉ là tượng trưng.
Cô gái (mà sau này là vợ hắn) đẹp một cách mong manh, vì vậy chúng tôi đặt tên là “cô gái mong manh”. Cô là con gái duy nhất của một gia đình công chức thường thường bậc trung, nhà ở quận Nhất. Cô gái hay đi họp Ban liên lạc bằng cách ngồi trên chiếc xích lô đạp cho người ta chở, thân mình lúc nào cũng diện bộ áo dài lụa màu nhạt, lung linh như mây khói (cho tăng thêm phần mong manh?). Gái Sài Gòn chúng tôi có thói quen đi lại trên chiếc xích lô (5 năm sau ngày giải phóng vẫn giữ thói quen này). Khi ngồi trên xe chúng tôi chú ý giữ cho người thẳng bằng cách lưng không tựa vào thành ghế, tóc buông xõa và tay không giữ tà áo, cố ý để gió luồn vào thổi tung bay. Hình ảnh ấy góp phần làm phố xá mỹ miều. Tại sao gái Sài Gòn không đi bộ hoặc đạp xe đi học như quý cô nương khác trên cả nước? Có lẽ do diện tích Sài Gòn rộng, đi bộ không tới, đi xe đạp ngại mỏi chân. Nhưng còn một lý do tế nhị khác mà chỉ có gái Sài Gòn mới hiểu, ngồi xe xích lô cho người ta chở mới là tiểu thư chính hiệu!
Hắn là con của ông bà chủ hãng xuất nhập khẩu. Nhà hắn có ba anh em trai, cả ba học cùng trường với chúng tôi, chỉ có lớp là khác. Khi đi học, ba anh em hắn có tài xế đưa đón, học xong là về nhà, không la cà phố xá. Những lần hắn tổ chức sinh nhật mời Ban liên lạc tới nhà, tôi thấy gia đình hắn, nhất là bà má, nề nếp qui củ lắm. Trong lớp, chúng tôi bầu hắn làm lớp trưởng vì hắn uy tín, học giỏi và tác phong nghiêm túc. Trong sinh hoạt tập thể hắn luôn là ngọn cờ dẫn dắt chúng tôi. Về ngoại hình thì khỏi chê, chúng tôi hay gọi hắn là “Alain Delon” (tài tử lừng danh của Pháp thời1950-1980) nhưng nếu muốn hắn nổi sung thì thêm chữ “beng” (A len đờ lông beng) đằng sau nữa. Nhiều tiểu thư nhà giàu đạt danh hiệu hoa khôi trường này trường khác mết hắn lắm, nhưng hắn chẳng thèm để ý đến cô nào.
Tới giờ tôi cũng không sao nhớ ra, bằng cách nào cô gái mong manh “lọt” được vào Ban liên lạc của lớp, nơi quy tụ những người “xuất chúng”. Về sắc diện, hình thức, học lực, tài vặt, thành phần xã hội, so với những tiểu thư trong trường, cô thuộc loại trung bình. Về công việc tập thể, Ban liên lạc giao cô phụ trách, cô thực hiện lúc được, lúc không. Nói chung, ngoài cái khoản mong manh làm người ta động lòng, còn thì cô chẳng tạo được một dấu ấn gì cho Ban liên lạc ghi nhớ sự hiện diện của cô. Thế mà đùng một cái chúng tôi thấy cô gái không đi họp bằng xe xích lô nữa mà ngồi trên chiếc xe Vespa Sprint màu xanh da trời, loại 150 phân khối do hắn chở. Thời đó, chỉ có công tử nhà giàu mới sắm nổi chiếc xe hách xì xằng như vậy. Chẳng bao lâu sau Ban liên lạc nhận được thiệp hồng. Ngày hai người cưới nhau tôi thấy hạnh phúc đầy tràn trong mắt tân lang và giai nhân. Khách tới dự tiệc cưới chúc vợ chồng hắn trăm năm hạnh phúc; tôi nghĩ, phải chúc ngàn năm hạnh phúc mới xứng. Thế mà, chỉ hơn hai mươi năm sau đó, vợ chồng hắn rẽ thúy chia uyên.
Lần gặp khoảng chục năm trước, mặc cho bệnh nhân chờ, hắn luôn miệng kể lể với tôi, đã có với cô gái mong manh hai mặt con, một trai một gái, cả hai theo nghề của cha, học chuyên khoa mắt bên Mỹ. Hắn nói, “Tụi nhỏ đứa nào cũng đẹp, học giỏi, thông minh, tụi Tây mết lắm, giống tui ngày xưa vậy”; nói xong hắn cười sang sảng. Tôi hỏi: “Cuộc sống của ông bây giờ thế nào?”. Chỉ chờ có vậy hắn huyên thuyên: “Sáng trước khi tới bệnh viện (Nhà nước), tui mổ hai ca, nếu mổ một con mắt thì hai mươi triệu, nếu mổ hai con mắt thì bốn mươi triệu, sau đó mới đi làm; trưa, tui tranh thủ làm một hoặc hai ca nữa; chiều, khám bệnh ngoài giờ ở dưỡng đường do tui làm chủ, đến tối mịt mới về nhà”.
Còn bà xã thì sao? Tôi hỏi tiếp, hắn trả lời: “Tui xây cho bà ba cái dưỡng đường, mổ xong, tui chuyển cho bả chăm sóc. Chưa kể tiền thuốc, khám sau mổ, chỉ tiền phòng không thôi bà cũng thu được năm triệu một người/ngày. Bả bây giờ trẻ, đẹp hơn xưa. Đó là nhờ tui cưng như cưng trứng, hứng như hứng hoa. Mỗi ngày bà chỉ có việc ngồi trên chiếc xe đời mới nhất (xe cũ tui thay liền) cho tài xế lái đi từ dưỡng đường này qua dưỡng đường khác, xem sổ sách, thu tiền, là hết việc. Chung quanh bả lúc nào cũng có hàng chục người hầu hạ, sung sướng như bà hoàng”.
Đúng đoạn hào hứng này tôi hỏi hắn “chuyện ngắm trăng”. Và tôi nhận được câu hỏi lại của hắn “Trăng là gì?”, kèm theo một nụ cười ngạo nghễ.
……
Hôm rồi cửa sổ tâm hồn của tôi lại trở chứng, nhìn xa bị mờ, nhìn gần mờ hơn nhìn xa. Thấy vậy, bạn bè người khuyên đi mổ, người can ngăn. Tôi chợt nhớ đến hắn, liền đến gặp, tôi cần ở hắn một lời khuyên.
Lần gặp lại này, nếu hắn không chủ động chào tôi trước, tôi sẽ không nhận ra. Trước mắt tôi là ông bác sĩ già khọm, tóc bạc trắng, mặt buồn rười rượi, nước da tối sạm. Đâu mất rồi một ông bạn có gương mặt phơi phới, hình thức lịch lãm và nụ cười ngạo nghễ? Thấy vậy tôi quên mất mục đích đến là để khám mắt, vội hỏi, “Làm ăn thất bát hả?”. Hắn im lặng rất lâu rồi nói một câu chẳng ăn nhập gì đến câu tôi hỏi: “Cô gái mong manh đã bỏ tôi đi lấy chồng khác rồi! Bỏ vội vã đến nỗi không thèm chia gia tài bà ạ”. Tôi giật mình: “Bỏ luôn ba cái dưỡng đường to đùng sao?”. Hắn nghẹn ngào: “Ừ, bỏ luôn, thế mới điên”.
Tôi nhẹ nhàng ngồi bên cạnh, cầm tay hắn, im lặng. Hắn bắt đầu chia sẻ: “Bà có nhớ cái thằng cù lần trong lớp mình không? Cái thằng hâm hâm đi học bằng chiếc Mô bi lết (Mobylette) cà tàng, con của ông già sửa xe đầu đường gần trường tụi mình học đó”. Hắn nói tiếp, mắt hắn như có nước: “Thằng đó coi vậy mà học giỏi, tụi mình không nhằm gì với nó đâu, bây giờ nó làm giáo sư của một số trường Đại học. Nghe nói, tình duyên nó trục trặc sao đó (không chừng hồi nhỏ nó thương thầm vợ tui à nghen) nó ở vậy luôn cho đến giờ. Hôm rồi làm thủ tục ly dị với tui xong, bả kết hôn với nó liền. Thằng đó nghèo rớt mồng tơi, lương thầy giáo nuôi bả gì nổi. Hiện nay bả phải nhận may quần áo thêm cho khách, hai người mới đủ sống. Vậy mà gặp lại tui mặt bả tươi rói, chưa bao giờ ở với tui mà mặt bả tươi rói như vậy”.  Rồi hắn nói, như nói với chính mình: “Đàn bà nhiều người kỳ cục lắm, chồng cung phụng cho đủ thứ, nuông chìu hết mực mà vẫn đành lòng bỏ đi lấy người không bằng một góc của chồng mình. Thật không thể hiểu nổi…”.
Chờ hắn vơi bớt nỗi ấm ức tôi hỏi thăm hai đứa nhỏ. Tôi nghe từ hắn một giọng thiểu não hơn: “Tưởng hai đứa nối nghiệp cha, ngờ đâu, từ lâu tụi nó đã chuyển qua học nghề khác, đứa học thiết kế thời trang, đứa học phóng viên báo chí. Đã thế tui gọi về để giao tài sản mà chẳng đứa nào chịu về. Tụi nó nói “Ba mê tài sản hơn má và chúng con thì ba cứ giữ lấy”. Tôi động lòng thương cảm, hỏi: “Bây giờ ông sống như thế nào?”. Hắn nói, “Tui ở luôn trong bệnh viện, về nhà ở một mình, buồn lắm”. Không thể không hỏi thêm: “Thế căn nhà lớn ở quận Nhất và ba cái dưỡng đường ai ở, ai trông coi?”. Hắn nói, giọng nhẹ như gió thoảng: “Lâu lắm rồi tui chẳng ghé về nhà, còn ba cái dưỡng đường đang treo bảng bán hoặc cho thuê”. Thói quen nghề nghiệp, tôi đánh giá: “Ba cái dưỡng đường đó, bán cũng bộn tiền ông ạ”. Hắn ngẩng lên nhìn tôi, mắt hắn sâu thăm thẳm: “Của đó vô thường lắm, không có thật đâu bà”.
Giá mà, mười năm trước hắn nhận ra sự vô thường đó thì đoạn kết của đời hắn đâu đến nỗi buồn như bây giờ?
Tự nhiên tôi nhớ gương mặt phơi phới với nụ cười ngạo nghễ khi hắn hỏi ngược lại tôi “Trăng là gì?”.
Trăng là gì ư? Trăng là ly nước mát của vợ trao tận tay mà hắn quên uống. Trăng là cái bình hoa vợ chăm chút cắm mong chồng để mắt tới, thế mà hắn đành lòng không màng. Trăng là tiếng cười reo của hai đứa con đón hắn sau những giờ làm việc nhưng vì mệt, hắn đã cằn nhằn, quạu quọ. Trăng là những bữa cơm nóng mà khi hắn về thì đã nguội lạnh, rồi cả nhà nhịn ăn theo hắn.
Trăng còn là cái nắm tay âu yếm mà từ rất lâu hắn quên trao cho vợ. Trăng còn là những đêm vì sợ con lạnh, hắn rón rén bước qua phòng kéo mền đắp cho con mà sau này vì mệt mỏi, ngủ vùi, hắn quên. Trăng còn là tất cả những mây và gió, những hương và hoa trong cuộc sống mà do tâm không an, thân không lạc cho nên hắn không thể cảm nhận được.
Trăng là gì nữa? Là người vợ đã bỏ chồng giàu đi lấy chồng nghèo; là những đứa con thà kiếm tiền từ sức lao động và trí tuệ của mình chớ không nhận tài sản của người cha để lại. Trăng còn là kết cục của đời hắn, bỏ mặc căn nhà lớn ở quận Nhất và đóng cửa ba cái dưỡng đường to đùng vào ở trong bệnh viện vì, ở một mình buồn lắm.
Những người chồng bận rộn ơi, nhớ dành thời gian ngắm trăng với vợ và con, đừng để trăng lặn mất, rồi tiếc như hắn, bạn của tôi./.
Tạ Thị Ngọc Thảo   

Thứ Năm, 7 tháng 4, 2011

Chủ quyền, nhân quyền, và xía zô chủ nghĩa

Vũ Quí Hạo Nhiên/Người Việt

Trong lúc chiến sự Libya đang nóng bỏng, một sự bất đồng quan điểm khá quen thuộc lại diễn ra giữa nhiều nước trên thế giới.

 

 

 

Ðiểm bất đồng đó là: Có một luồng dư luận cho rằng, chuyện lính Libya bắn ai, giết ai, là chuyện riêng, chuyện nội bộ của Libya, nước khác đừng can thiệp vào.

 

Những nước đưa ra lập luận này thường là những nước hay bị chỉ trích vi phạm nhân quyền. Như Trung Quốc, Bắc Hàn. Hay Việt Nam. Một ngày sau khi trận không kích khởi đầu, báo Nhân Dân viết trong một bài không ký tên: “Dù với bất cứ lý do nào, việc dùng sức mạnh quân sự tiến công Li-bi là sự xâm phạm một quốc gia độc lập, có chủ quyền.”

 

Ðặc biệt, Trung Quốc và Việt Nam có lập trường cho rằng chuyện nhân quyền trong nước họ là chuyện riêng, đừng ai hỏi tới.

 

Truyền thống Khổng giáo

 

Tiêu biểu là lời của bà Tôn Nữ Thị Ninh, nguyên phó chủ tịch Ủy Ban Ðối Ngoại của Quốc Hội. Bà nói tại Câu Lạc Bộ Báo Chí Quốc Gia ở Washington:

“Trong gia đình chúng tôi có những đứa con, cháu hỗn láo, bướng bỉnh thì để chúng tôi đóng cửa lại trừng trị chúng nó, dĩ nhiên là trừng trị theo cách của chúng tôi. Các anh hàng xóm đừng có mà gõ cửa đòi xen vào chuyện riêng của gia đình chúng tôi.”

 

Các viên chức Trung Quốc cũng hay nói những lời tương tự. Lập luận kiểu này xem quyền chính phủ cai trị một nước là quyền tuyệt đối, không ai được xen vào.

 

Ðó là một cách nhìn. Ðiểm hơi đặc biệt là Trung Quốc cũng là một nước hay viện dẫn “đặc điểm Á Ðông” hay “truyền thống Khổng giáo” để biện hộ cho lối cai trị kiểu độc tài mà vẫn cứ gọi là “dân chủ.”

 

Trong khi đó, khái niệm chủ quyền một nước và chuyện nước ngoài không can thiệp vào nội bộ, lại là một khái niệm của Tây phương, không phải một “đặc điểm Á Ðông” hay “truyền thống Khổng giáo.” Truyền thống Khổng giáo là ngược lại. Truyền thống Khổng giáo là thường xuyên can thiệp vào nội bộ nước khác để bảo vệ trật tự Khổng giáo.

 

Ðiều này rất quen thuộc nếu đọc truyện Tàu. Lâu lâu trong một nước có chuyện cướp ngôi, hàng xóm bèn gõ cửa xen vào ngay, với lý do “hỏi tội” kẻ phản tặc.

 

Ðông Châu Liệt Quốc có vô số chuyện như vậy. Vua nước Trần ngoại tình với mẹ góa của Hạ Trưng Thư, Hạ Trưng Thư tức quá giết vua đi lập vua khác. Nước Sở bên cạnh bèn đem quân qua hỏi tội. “Bày tôi giết vua, láng giềng có quyền đem quân hỏi tội” là câu thường thấy trong truyện Tàu.

 

Tam Quốc Chí cũng vậy. Nước Tàu chia 3 nước độc lập, Ngụy Thục Ngô, không nước nào có quyền trên nước nào. Thỉnh thoảng ba nước lại đập nhau vài trận.

 

Nhưng khi Tư Mã Chiêu nước Ngụy giết vua Tào Mao lập vua mới Tào Hoán, thì Khương Duy nước Thục bèn viết thư qua Ngô rủ nhau mang quân đi hỏi tội.

 

Cũng là nước riêng biệt đó, cũng là chuyện nội bộ đó, nhưng cái truyền thống Khổng giáo là xen vào thường xuyên. Và truyền thống cộng sản cũng vậy.

 

Cộng Sản chủ nghĩa là chủ nghĩa xen vào

 

Khác với tuyên bố của bà Tôn Nữ Thị Ninh, lịch sử chủ nghĩa cộng sản trên thế giới cho thấy họ thường xuyên xen vào chuyện nội bộ của nước khác, bất kể nguyên tắc độc lập, chủ quyền.

 

Ðiều này đã xảy ra từ khi Lenin còn sống. Ukraine sau Thế Chiến Thứ Nhất là một mớ bòng bong của sự can thiệp đến từ nhiều thế lực trong và ngoài nước. Ðáng kể nhất, là sự can thiệp từ chính quyền Nga Bôn-sê-vích.

 

Dựa trên lý tưởng thế giới đại đồng, xóa biên giới, và cũng dựa trên thuyết cách mạng vô sản thế giới của Trotsky, nước Nga Xô-viết dù mới ra đời cũng biết xen vào trắng trợn, dựng nên một chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết Ukraine, để rồi thành lập Liên Xô.

 

Khi Quốc Tế Cộng Sản ra đời, anh cả Liên Xô càng can thiệp lộ liễu, bảo gì nước khác phải nghe nấy. Không nghe thì đuổi ra, như Tito ở Nam Tư, hoặc đánh cho phải nghe, như mùa xuân Prague.

 

Ðiều éo le ở đây là hai nước vin vào lập luận “không can thiệp” nhiều nhất, lại là hai nước cộng sản. Trong đó có một nước khi giận chính sách của láng giềng thì tràn quân qua biên giới, dạy cho nó một bài học. Còn nước kia khi không áp đặt được ý muốn của mình lên láng giềng, thì qua cướp nước người ta và chiếm đóng 12 năm. Cũng loanh quanh cộng sản với nhau.

 

Chủ quyền

 

Nguyên tắc không xen vào là một nguyên tắc của chính trị Âu Tây. Nó bắt nguồn từ hòa đàm Westphalia năm 1648, chấm dứt hai cuộc Chiến Tranh 30 Năm và Chiến Tranh 80 Năm.

 

Chiến Tranh 80 Năm (1568-1648) là chiến tranh giành độc lập của Hòa Lan, ra khỏi quyền cai trị của Tây Ban Nha.

 

Chiến Tranh 30 Năm (1618-1648) là trận giao tranh khủng khiếp giữa các thế lực Châu Âu, đánh nhau vì đất, vì tiền, vì tôn giáo, vì muốn xóa quyền Ðế quốc La Mã Thần thánh (Holy Roman Empire), với liên tục các vụ xúi giục hoặc mua chuộc bên này đánh bên kia, nước này xọ vào nước nọ.

 

Một tên tuổi quen thuộc với độc giả Việt Nam, Hồng Y Richelieu (nhân vật trong Ba chàng ngự lâm pháo thủ) trả tiền cho Thụy Ðiển để Thụy Ðiển đóng quân ở Ðức đánh với nhà Habsburg.

 

Nói chung là rất nhiều sự xen vào.

 

Cho nên, khi các phe đồng ý hòa đàm, một nguyên tắc được đưa ra trong hòa ước Westphalia là các nước đều bình đẳng, và các bên đồng ý không can thiệp vào chuyện nội bộ của nhau.

 

Nguyên tắc này được xem là viên gạch căn bản của một “hiến pháp” cho luật quốc tế. Nguyên tắc này là: Có một cái gọi là một “nước”, gồm có đất (lãnh thổ) và người (công dân), và nước đó có chủ quyền trong chuyện nội bộ nước mình.

 

Chủ quyền của ai?

 

Nhưng, ngay từ đầu, đã có câu hỏi đặt ra: Cái gọi là chủ quyền đó, ai nắm?

 

Ðã biết đặt câu hỏi này rồi, sẽ thấy ngay sự sai lầm - hay có thể nói là sự “đánh lạc hướng” - trong lập luận cho rằng nước ngoài phải mặc kệ cho chính quyền một nước muốn làm gì người dân thì làm.

 

Vì câu trả lời là, người nắm chủ quyền, không phải là tổng thống, hay chính phủ, mà là người dân. Người dân mới là người nắm chủ quyền.

 

Nguyên tắc không can thiệp, nó có một điều kiện cần, là chủ quyền. Chủ quyền đó, do dân nắm. Khi dân bị mất quyền tới mức không chấp nhận được, thì điều kiện cần coi như đã mất, và khỏi có “không can thiệp” nữa.

 

Từ những ngày đầu tiên sau hòa ước Westphalia, các nhà tư tưởng đã chỉ ra rằng, chủ quyền quốc gia thuộc về người dân, không thuộc về nhà cầm quyền. Xin nhắc lại, đây là thế kỷ 1600, khi còn vua chúa giáo hoàng tung hoành khắp nơi, chứ đừng nói chi thời dân chủ hiện nay.

 

Triết gia Francis Bacon (1561-1626): “Chủ quyền và quyền lực” không nằm trong nhà cầm quyền, mà nằm trong tay Con Người ngay từ khi tọa hóa đã sinh ra. (Xem Valerius Terminus)

 

Triết gia Thomas Hobbes (1588-1679): Chủ quyền quốc gia tùy thuộc vào “hợp đồng xã hội tiên quyết” (first social contract) giữa giới thống trị và người dân. (Xem Leviathan)

 

Triết gia Immanuel Kant (1724-1804) nói về những “quyền lợi công của loài người” như một thứ luật quốc tế bất thành văn, vì khi quyền lợi này bị vi phạm “ở một chỗ” sẽ “được cảm nhận khắp thế giới.” (Xem Perpetual Peace)

 

Tất nhiên, tư tưởng cũng thay đổi theo thời gian, tới nay đã 400 năm, nhưng tóm lại đều có ý chung: “Không can thiệp” không có nghĩa là nhà cầm quyền muốn làm gì thì làm.

 

Vì nhà cầm quyền không nắm chủ quyền. Vua chúa, tổng thống, chủ tịch, tổng bí thư, không phải là chủ một nước, người dân mới là chủ. Người dân mới là người nắm chủ quyền.

 

Hai chữ “chủ quyền” chỉ có thể dùng để bênh người dân, không thể dùng để bênh chính quyền chống lại người dân.

 

 Can thiệp vì nhân quyền

 

Chính vì vậy, trong lịch sử nhân loại, từ thời sau khi có hòa ước Westphalia tới nay, có rất nhiều vụ can thiệp vì lý do nhân quyền.

 

Giữa thế kỷ 19, chiến thuyền Anh tấn công hải cảng Brazil, để triệt hạ việc mua bán nô lệ. Còn gì nội bộ hơn là mua bán? Thời đó chưa dùng ngôn ngữ “nhân quyền” của ngày nay, nhưng thử hỏi triệt hạ việc mua bán nô lệ là bảo vệ cái gì, nếu không phải bảo vệ nhân quyền?

 

Tới khi thành lập Liên Hiệp Quốc, ngôn ngữ “nhân quyền” hiện đại trở thành thông dụng. Hiến chương LHQ kêu gọi tôn trọng “nhân quyền và quyền tự do căn bản.” (Ðiều 55.) Rồi cũng hiến chương này các nước hứa sẽ “có hành động chung và riêng” để “đạt được mục tiêu trong điều 55.”

 

Vậy những “hành động chung và riêng” đó có phải là can thiệp không? Nếu Hạ Viện Hoa Kỳ chỉ mới ra có mỗi cái nghị quyết mà đã bị tố cáo là can thiệp, thì những “hành động” trong Hiến Chương LHQ gồm những gì?

 

Không kể Libya, việc quốc tế mang quân vào nhiều nơi khác: Iraq, Kosovo, Rwanda, là rất nhiều thí dụ cho thấy, khi sự vi phạm nhân quyền lên tới độ trắng trợn, sự can thiệp của quốc tế cũng sẽ lên tới độ thẳng tay.

Không có nghĩa là mỗi lần có chút vi phạm nhân quyền ở đâu là các nước cũng mang quân tới đánh rầm rầm. Nhân quyền bị chà đạp tới đâu, sự can thiệp sẽ mạnh mẽ tới đó.

 

Nếu những chuyện xa vời đâu đó không thuyết phục, hãy thử chỉnh lại câu nói của bà Tôn Nữ Thị Ninh, sau khi đã hiểu không phải nhà cầm quyền mà người dân là chủ đất nước:

“Trong gia đình chúng tôi có những đứa con, cháu hỗn láo, bướng bỉnh. Cha mẹ nói thì chúng bịt miệng. Cha mẹ nêu lỗi lầm của chúng thì chúng bắt giam. Cha mẹ có đất đai thì chúng cướp. Cha mẹ cởi mũ bảo hiểm thì chúng đánh gãy cổ. Cha mẹ có con gái vị thành niên thì chúng hiếp.”

 

Khi đó, nếu các anh hàng xóm mà nói vào, thì sao?