Gửi cho bạn đường line xem bộ phim Câu chuyện xô viết. Bạn cám ơn và gửi lại bài thơ của Xuân Diệu viết năm 1955-1957 từ thế kỷ trước, bạn có bản nguyên gốc. Đòi thêm, bạn gửi cho Tiểu luận trích đoạn. Thấy hay hay khi nghĩ rằng thời xưa nó thế, không viết thế thì làm sao mà sống được. Post lên cho bạn bè suy ngẫm một thời và bây giờ ra sao ?
ĐI TỚI MẠC TƯ KHOA
…..
……
Mạc tư khoa!
Nói đến tên, đã sung sướng chan hoà!
Trái đất đi giữa tinh cầu hãnh diện
Trên mình có Mạc tư khoa:
Có Liên xô, nước xã hội của ta,
Không người đói, không còn người dưới ách.
Trên điện Krem-linh
Ngôi Sao Đỏ của Tháng Mười hiển hách,
Lữa bùng cao trong giông tố đấu tranh
Ngọn hải đăng trên mặt biển hoà bình.
Ta đi tới Mạc tư khoa phía trước
Cơm áo, mặt trời, nụ cười, suối nước,
mộng nghìn xưa thành sự thực nên thơ,
Mỗi người tâm niệm ước mơ
Trong đời được thấy Liên xô một lần;
Nghe Mạc tư khoa mỗi phút mỗi gần,
Trái tim ta rạng, tinh thần ta trong
Bánh xe lữa quay vòng thép sáng,
Cánh tàu bay lướt áng mây xanh;
Đường rút ngắn, gió bay nhanh,
Bốn phương quây lại Kinh thành Ngôi sao.
Người chưa thấy ngẩng cao trông ngóng;
Kẻ thấy rồi lồng lộng thêm tin;
Người đang đi tới trông lên
Chưa xem tầu điện, chưa nhìn dòng sông,
Đã giơ tay đón ánh hồng,
Nhìn Ngôi Sao Đỏ ở trong tâm hồn.
Mười năm trước, cuộc đời ta tăm tối,
Ngàn trùng đêm xa lối Mạc tư khoa;
Dân tộc ta mất nước, tan nhà;
Ta u uất nghẹn lời ca giữa cổ.
Đường tranh đấu có Ngôi Sao Đỏ,
Nước ta nay đã một nữa trời hồng;
Dân ta thề dẹp biến nốt đêm đông;
Đứa con nước Việt được lên đường rực rỡ
Tới Bắc kinh, cửa Thiên an tới đó,
Tới đời vui, tới Mông cổ tươi cười…
Mạc tư khoa! tới đây rồi!
Muốn hôn mảnh đất sáng ngời Liên xô.
Tháng 8, tháng 9-1955
XUÂN DIỆU
Tôi không dám nói đã biết được tuổi vàng, vì chủ nghĩa Mác Lê-nin có một con đường phát triển vô cùng tận. Tôi chỉ muốn nói càng ngày tôi càng yêu, hiểu Cách mạng tháng Tám, Cách mạng tháng Mười hơn. Mười ba năm sống trong chế độ mới của chúng ta, không thấm thía sao được. Từ một người nô lệ, từ một kẻ tù tư tưởng của văn hoá cũ, tôi đã thành một người tự do. Tôi không muốn cái xã hội đã bắt những em bé phải khóc vì buồn, những em bé đòi mẹ nhả cơm ra, những em bé chết đói bám vào cửa kính như ruồi, tôi không muốn nó còn quay trở lại. Ngòi bút của tôi nhọn, có thể góp sức cản đường nó. Khi nó lồng lộn đòi trở lại ở nước anh em Hung-ga-ri, tôi ở xa, vẫn biết mặt biết tên của nó. Tôi không thể phút nào quên được rằng nó còn ở trong miền Nam nước Việt thân yêu của ta!
Những em bé của chế độ ta đã no hơn, ấm hơn, chúng nó hát ca luôn miệng; và chúng nó thông minh, cái thông minh dũng cảm. Tôi coi chuyện em Ngọc như một trong trăm ngàn điển hình của các em đi kháng chiến. Ngọc làm liên lạc ở mặt trận, lúc đầu kháng chiến, bị thương. Bác sĩ phải mổ. Chị y tá thương em quá, ôm lấy đầu em, che mắt em lại. Em Ngọc nói, tỉnh táo: “Chị không cần phải che, hãy để cho em nhìn thấy vết thương của em.”
Ngọc muốn nhìn sự thật căm thù, không muốn trốn. Nhưng khi mẹ Ngọc hay tin, tìm đến thăm, thì Ngọc vẫn hãy còn nhỏ lắm, Ngọc thích làm nũng mẹ, đòi quà.
Chủ nghĩa nhân văn của chúng ta như thế đó. Một em liên lạc khác, không hơn mười ba tuổi, trong khi một toán quân ta, những năm đầu kháng chiến, rút lui lộn xộn, đã ở lại sau trên chiến địa, mò mẫm các bờ bụi, thấy một anh bộ đội bị thương nặng, nằm như người chết. Dốc hết toàn lực, bằng mọi cách, em cố cướp thời gian, cõng đưa anh về căn cứ, và đơn vị đã chữa được anh sống lại. Toàn đơn vị tuyên dương em, hỏi em vì sao đã cứu sống được một người, em trả lời: “Em sờ ngực anh thấy hãy còn nóng, em tiếc…”
“Em tiếc”, đó là chủ nghĩa nhân văn của chủ nghĩa Mác Lê-nin chúng ta!
Chúng ta không bao giờ coi một người còn sống là một “cô lâu mộng”, mà trái lại, chúng ta cố cứu sống lại những cái gì ngỡ là đã chết. Ví dụ như tư tưởng. Chúng ta rất muốn sống lâu năm, đem kinh tế, khoa học, y học để làm dài đời sống con người; nhưng chúng ta không chỉ thấy đời sống là một số lượng ngày khoái lạc cố đếm được càng nhiều càng hay. Chúng ta không quan niệm cái vĩnh viễn theo kiểu sợ già, sợ chết đó. Chúng ta là những người duy vật, nhưng đầy lý tưởng; chúng ta biết cái tinh diệu của đời sống là ở bên trong. Cái tôi của tôi, không cần và không nên huỷ diệt nó như vài nhà tôn giáo Ấn Độ quan niệm. Tôi vui sướng mang cái riêng, nhưng không tôn nó làm bạo chúa, mà hoà nó với cái chung; cái tôi kiểu mới này giàu và mạnh, sinh sôi nảy nở mãi đến hơi thở cuối cùng. Từ lúc hoà nó được với muôn người, tắm nó vào hành động cách mạng, thì nó thành bất diệt.
Vũ trụ của ta cũng vậy; nó không điêu tàn chút nào hết. Nó không quay luẩn quẩn, mà có một lịch sử, một đường tiến. Đầu tiên của loài người, vệ tinh xô-viết đã đem tin vui của Cách mạng tháng Mười vào trong vũ trụ. Con người, mà chủ nghĩa Mác Lê-nin hoàn toàn tin tưởng, đã bắt đầu ra mắt trên sân khấu của vũ trụ rồi!
Cái lạc quan không cùng của chủ nghĩa Mác Lê-nin đã rọi ánh thấu đáo vào tư tưởng tôi. Tôi rất biết rằng tâm trí tôi không phải chỉ có vui, mà luôn luôn có những mâu thuẫn mới, nảy ra trong đó, bắt tôi phải giải quyết. Khi chưa giải quyết được, thì ít hay nhiều, tôi còn buồn. Nhưng buồn chưa phải là bi quan. Mà nếu tôi có bi quan riêng tôi, thì mặc kệ! đời vẫn cứ có hướng lạc quan để tiến. Nhưng mà mình đã nhận định được rằng đời lạc quan tiến, thì mình cũng không có thể bi quan lâu về mình.
Cái vấn đề tư tưởng chính trong văn học là nhà văn có được một niềm lạc quan cách mạng về quốc gia dân tộc, về xã hội, về nhân loại hay không? Cái lạc quan này có đầy đủ lý luận khoa học, chứ không phải cuồng tín; nó dựa chắc chắn vào quần chúng và Đảng; nó không sợ đấu tranh. Do vậy, thực chất của vấn đề bôi đen, tô hồng, theo ý tôi, là vấn đề thái độ đối với Đảng của giai cấp vô sản. Hòn đá thử vàng của một người, trước hết vẫn là thái độ của người đó đối với địch, đối với ta, với những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân.
Trên một con đường gồ ghề, có những người cùng đẩy một chiếc xe bò. Do bản thân chiếc xe bò sức chưa được mạnh − nó chưa phải là một chiếc ô tô − lại do khuyết điểm xếp đặt, lau chùi kém, nó còn đi cà rịch cà tang, và kêu cọc cạch cút kít nhiều quá! Có người nóng tính vừa đẩy xe bò vừa chửi; có những người ráng đẩy cho mạnh hơn, những người này thì thường ít hay kêu om mà gắng nghĩ cách chữa xe; có người buông xuôi tay ra mà đứng bên đường; có người lấy cớ xe sai, nhẩy phóc lên xe ngồi để người khác đẩy mình. Lại có đứa vốn không yêu xe, xúi người ta đến đánh anh cầm càng đằng trước. Ai có lý và ai có lực?
Nhà văn dù có tài mấy, mà như Ho-vơ Phát (Howard Fast) bỏ mặt trận của Đảng trong lúc gay go và địch đang lợi dụng khuyết điểm của ta để tập trung đánh ta, chỉ là một kẻ đào ngũ. Dù là Picátxô (Picasso), hoạ sĩ lừng danh thế giới, đồng chí Picátxô ngày 20 tháng 11 năm 1956, khi cùng chín đảng viên trí thức khác, nằm trong các chi bộ, Đảng bộ khác nhau mà đã gửi thư tập thể thẳng cho các Uỷ viên Trung ương đang họp Ban chấp hành, đòi triệu tập Đại hội Đảng bất thường nhân vì có việc Hung-ga-ri, và ngay hôm sau, thư và tên người đã thấy đăng trên báo tư sản; đồng chí Pi-cát-xô cùng chín đồng chí ấy đã được Trung ương Đảng Pháp công bố bản trả lời chính thức, đồng thời công khai phê bình trước Đảng và toàn dân về việc hành động một cách bè phái và vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ. Một thiên tài lỗi lạc đến đâu cũng không thể coi hơn giai cấp công nhân và Đảng của nó, hơn quần chúng nhân dân, hơn dân tộc. Trong những ngày Đảng Pháp bị bọn phản động tấn công điên cuồng, đồng chí Giô-li-ô Quy-ri (Joliot Curie) phát biểu: Chưa bao giờ tôi thấy tôi thực sự tự do như bây giờ.
Lẽ phải ở với những người dù nóng tính hay đằm tính, tích cực đẩy, chữa, lái chiếc xe bò. Lẽ phải, và cả sức mạnh, ở với những người lao động, xây dựng, chiến đấu.
Chúng ta từ một xã hội cũ và xấu thoát thai ra, nên chúng ta hiện nay vẫn đang còn hai bậc thang đánh giá: những người hưởng thụ nhiều thì ít hy sinh, những người hy sinh nhiều thì hưởng thụ chưa được mấy; chúng ta sẽ làm cho chỉ còn có một bậc thang công minh trong một xã hội không có giai cấp. Trong khi còn chưa đến đó, thì nhiều người vẫn còn lấy sự giành giật tối đa hưởng thụ làm lẽ sống của họ. Nhưng trên tinh thần, lúc nào cũng chỉ có một bậc thang cao cả: là hy sinh.
Sung sướng thay, vinh quang thay những đồng chí đã đến với Đảng từ lúc tối lửa tắt đèn xưa kia, những đồng chí khổ trước thiên hạ, sướng sau thiên hạ! Đáng kính yêu thay, quần chúng trung bình và vĩ đại, bao giờ cũng chịu thương chịu khó như một bà mẹ, có khi trồng cây mà bị bọn láu cá hái quả ăn trước!
Cách mạng tháng Mười đã 40 năm. Cách mạng tháng Tám đã 13 năm. Tôi có thể nói với Đảng của giai cấp vô sản và của dân tộc:
Lên non em cũng theo lên,
Xuống biển em cũng ngồi bên mạn chèo.
Không những ngồi bên mạn chèo, mà trong tay dù chỉ có một cái que cũng thọc xuống nước mà bơi, bơi đến Thống nhất Tổ quốc, Hoà bình thế giới; bơi đến chủ nghĩa Xã hội, bơi đến chân trời Cộng sản.
10-1957
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét