Chủ Nhật, 30 tháng 1, 2011

Chuyện nhà Táo (hay Nỗi oan của một thầy bói)

Theo tích xưa kể Trọng Cao, Phạm Lang đều lần lượt là chồng của Thị Nhi, vì số kiếp éo le rồi cả ba cùng chết trong lửa. Diêm Vương thương mối oan tình mới cho ba người thành thần, chuyên cai quản bếp của các gia đình. Dân gian gọi họ là Táo Quân.

Chuyện ngày nay kể có một lão làm nghề thầy bói, lão này còn kiêm luôn cả nghề thầy cúng, thầy phù thủy… tóm lại là loại cao tay về đường âm. Dân tình đồn lão thầy bói này còn có bằng tiến sỹ tâm linh của Tây Tạng.

 Nhà thầy bói cũng như mọi nhà, có ba Táo Quân, gồm hai Táo ông một Táo bà. Nhờ khả năng giao tiếp với âm thần, nên lão thầy bói có thể trò chuyện với những vị này, đôi khi còn họp hội với nhau chơi tá lả, tình cảm đôi bên thân thiết.

 Tuy mấy vị Táo này thành hồn thành thần từ lâu, nhưng lúc chết vẫn đang độ trẻ trung, lòng trần chưa tuyệt, nhớ lại cái trò tí toáy tí mẻ nam nữ lúc còn tại dương, thèm lắm.

 Một ngày hai Táo ông đem tâm sự ấy nói với thầy bói. Lão này nghe xong, rất thông cảm. Vốn sẵn bản lĩnh bùa chú, lão bèn cho vợ chồng nhà Táo ba cái bùa, bảo ngậm vào miệng thì sẽ có da thịt như người dương trong vài tiếng đồng hồ. Lão thầy bói cũng dặn thêm là việc này phải giữ kín, tuyệt đối không được để Táo bà chửa, vì Ngọc Hoàng mà biết thì sẽ phạt lão. Hai Táo ông đâm phân vân bảo là mấy trăm năm nay sống kiếp thần, những kiến thức phòng tránh chửa đẻ này rất ngu, vả lại nhịn mấy trăm năm rồi, sợ máu quá không kìm được. Hai Táo ông đem chuyện ấy hỏi lại Táo bà thì Táo bà cũng lù mù nốt. Lão thầy bói liền đưa cho hai Táo ông mấy cái bao cao su, hướng dẫn làm như thế như thế…

 Ba vợ chồng nhà Táo ngậm bùa xong, thoắt, biến thành người, hai nam một nữ. Ngay lập tức ba vợ chồng dắt nhau vào nhà nghỉ. Dịch vụ ấy thời này thủ tục đơn giản, cũng chẳng ai hỏi han giấy tờ nhân thân lằng nhằng.

 Hai Táo ông rút thăm phân chia lượt đàng hoàng, rồi mới lần lượt từng vị mây mưa với Táo bà. Mấy thế kỷ ngắm nhau suông như ăn đồ chay, giờ cả nhà mới được ăn mặn, khỏi phải tả độ hoan hỉ của ba vợ chồng. Táo bà mắt chớp chớp mồm đớp đớp kêu “Đã quá! Đã quá!”.

 Theo thứ tự mỗi Táo ông đã xong một hiệp.

 Lúc hai Táo ông chuẩn bị tiến hành hiệp hai thì bất ngờ có tốp người mặc thường phục ập vào phòng, xưng là tổ công an đang làm nhiệm vụ đi kiểm tra hành chính. Cả ba vị Táo khai họ là vợ chồng. Cái lý này xem ra rất khó thuyết phục! Vả lại thời Diêm Vương cho họ thành vợ chạ chồng chung thật, nhưng chỉ phán mồm, chứ cũng không cấp giấy đăng kí kết hôn.

 Mấy viên công an liền kết luận Táo bà đích thị là gái bán dâm, hai Táo ông là khách mua dâm, rồi tách vợ chồng nhà Táo mỗi người một góc.

 Khi tổ công an lập biên bản hai Táo ông tội mua dâm, hai vị cuống, mới khai tốc tộc: tên thì dương nhiên vẫn là Trọng Cao, Phạm Lang, nhưng hỏi đến tuổi thì  hai vị khai đã mấy trăm mà nghề nghiệp lại là làm thần. Mấy gã công an thụi cho hai Táo ông một trận vì tội bướng. Hai vị ức sùi bọt mép.

 Táo bà lúc này đang lõa lồ, một gã trong nhóm công an rút điện thoại di động ra quát Táo bà:

 -       Con này đứng dậy tao chụp kiểu ảnh, nhanh!

 Táo bà hoảng, đứng dậy, tuy thế tay vẫn che vào chỗ kín. Gã công an vừa quay phim vừa quát:

  -       Dang hai tay ra, đ… mẹ mày. Quay ra đây. Chẳng nhìn thấy cái đéo gì!

 Táo bà khóc thút thít.

 Hai Táo ông dẫu bị ăn đòn đau vẫn cắn răng nhịn. Nhưng lúc Táo bà bật khóc vì bị quay phim thì hào khí hai vị này nổi, mới vùng dậy tính ăn thua với mấy viên công an, cương quyết không kí biên bản. Rốt cuộc hai Táo ông bị thụi thêm trận nữa.

 Bỗng một viên công an bới trong thùng rác của nhà nghỉ thấy hai bao cao su đã qua sử dụng, thứ này này đích thị là của hai Táo ông, mới đưa lên cho viên chỉ huy xem. Viên chỉ huy xem xong, liền cho niêm phong hai bao cao su vào túi ni lông, bảo: 

 -        Vật chứng tìm thấy rành rành đây. Lũ này vẫn còn ngoan cố chống đối người thi hành công vụ thì bắt giam lại, cho tòa khép chúng nó vi phạm điều 88, cho tù mất tết!

 May thay lúc ấy cái bùa trong miệng ba vợ chồng nhà Táo vừa tan hết, Táo ông Táo bà vụt biến không tăm tích.

 Lúc về đến nhà thầy bói, Táo bà ôm mặt hu hu khóc. Hai Táo ông thì nhìn thầy bói, mặt hầm hầm không nói không rằng. Thầy bói ngạc nhiên lắm.

 Vợ chồng nhà Táo trở về bếp, thầy bói mới lẻn theo, nghe lỏm thấy hai Táo ông nói chuyện với nhau. Một Táo ông hỏi:

 -        Điều 88 là cái gì hả ông?

 -        Thì thì... thì chắc là luật cấm sử dụng bao cao su lúc giao cấu.

 -        Sao đã cấm mà cái lão thầy bói còn đưa bọn mình dùng?

 Táo bà đang khóc dở, nghe vậy liền gắt:

 -        Thì thằng ấy nó đểu! Nó chơi mình! Sao hỏi ngu thế?

Từ Facebook  Đinh Vũ Hoàng Nguyên


 

Thứ Ba, 18 tháng 1, 2011

Những đoạn văn phong phú đến ngẩn ngơ !

Dưới đây, được trích từ những bài văn có thật, và được đăng trên Phụ san Làng cười, Xuân Tân Mão 2011.

 Văn là người ! Đặc biệt hiện nay, đào tạo học sinh về môn văn như thế nào mà có thể thấy được những ngu ngơ, tội nghiệp và phong phú của các em. Biết làm sao ???

 Đề:      Em hãy phân tích tấm lòng người mẹ của bà cụ Tứ trong chuyện “ Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân.

 Trong cuộc sống sinh hoạt đời thường, hàng ngày chúng ta đã từng thưởng thức rất nhiều loại lòng như lòng lợn, lòng gà, lòng vịt, . . . chúng đều rất ngon và có vị riêng biệt khác nhau, nhưng tất cả đều không thể bằng lòng mẹ.

 Đề:      Tả đường đến trường 

Con đường từ nhà đến trường em dài 2 mét. Ra khỏi ngõ, em rẽ phải đi qua quán bà Xuân, rồi rẽ trái đến quán ông Vịnh là rẽ trái tiếp, đi thẳng là tới.

 Đề:     Tả người thầy em yêu quý nhất

Thấm thoắt đã ba mùa hoa ban nở, thầy giáo phải tạm biệt chúng em để về xuôi. Cả làng cả bản đứng tiễn thầy vô cùng ngậm ngùi. Riêng em đứng nhìn theo thầy cho đến khi thầy xa dần, xa dần, đến khi nhỏ bằng con chó em mới quay lại bản.

 Đề:     Tả chú thương binh:

"Gần nhà em có một chú thương binh, chú bị cụt đầu, sáng nào chú cũng đi qua nhà em ăn sáng . . . "

Đề:     Tả con gà

 Nhà em có 1 con gà. Nó là giống gà Đông Cảo. Nó to bằng con gà gi. Nó nặng từ 8-10 kg..."  => chả hiểu nó tả giống gà gì.

Cứ sáng sớm thức dậy, con gà trống nhà em nó đều nhảy phốc lên cây rơm, gáy ò ó o. Gáy xong một hồi dài nó lấy hai cánh vỗ phành phạch vào mông đít.

 Đề:     Tả anh bộ đội.

Anh bộ đội cao khoảng 1,20 m, súng AK dài 1m rưỡi.

Đề:      Tả cây chuối.

Nhà em có cây chuối rất to, chiều nào em cũng leo lên cây chuối ngồi hóng mát. Khi em leo lên, cành chuối rung rinh.

 Đề:      Tả cảnh sân trường trong giờ ra chơi.

 Trống đánh tùng . . . tùng . . .. Các bạn ùa ra sân trường như bầy chim vỡ tổ. Chỗ này các bạn gái nhảy dây, chỗ kia các bạn trai đá cầu, thỉnh thoảng lại vang lên tiếng chưỡi “đ. mẹ “.

 Đề:      Tả em bé.

 Gần nhà em có một em bé rất dễ thương, vì hay bị té nên đầu em bị móp.

 Đề:      Em hãy miêu tả mùa Xuân.

 Mùa xuân ở quê em mở rất nhiều hội. Những ngày ấy trên đường có rất nhiều các ông các bà tay cầm ô đen ô đỏ đứng nói chuyện râm ran như bầy chim líu lo gọi mẹ.

 Đề:      Đặt câu hỏi với vần: ôm, ốp.

 Mẹ em tát em đôm đốp.

 Đề:      Đặt câu về phần gieo âm tiết.

 Có con trâu, bị ruồi bâu. Có con chim, bị vỡ tim.

 Đề:      Miêu tả về bố.

 Bố em có một hàm răng vàng, hàm răng vàng luôn chỉ bảo em những điều hay lẽ phải.

 Đề:      Tả chuyện trong gia đình.

 Em gái của em hồi đi học lớp 1 hay lớp 2 gì đó nhưng dốt lắm không biết chữ gì hết. Một hôm bố mẹ kiểm tra bắt nó đọc bài anh Kim Đồng xem. Nó không biết đọc nhìn cái hình có anh Kim Đồng chạy có con chim bay trong hình nó đọc là: “ Anh Kim Đồng đi liên lạc . . . vụt chim . . . vụt chim “.

 Đề:      Tả ông nội.

 Nhà em có nuôi một ông nội, ông nội suốt ngày chẳng làm gì cả chỉ trùm chăn ngủ, đến bữa ăn ông ló đầu ra hỏi:  Cơm chín chưa bây ?

 Đề:      Tả một dụng cụ lao động.

 Chiếc xẻng nhà em có rất nhiều công dụng, để hốt rác, và còn dùng để xúc ( . . . .) nữa.

 Đề:      Hãy tả hình dáng và tính tình một cụ già mà em rất kính yêu.

 Hình dáng của bà nội rất là thấp, được hai mét rưỡi dáng đi rất chậm chạp, mắt thì lừ đừ ít thấy gì nữa. Tính tình cụ già rất là bực bội. Khi bà nội cười liền nhe mầm răng ra còn được ba bốn cái gì mà thôi.

 Con mắt của bà tròn như hòn bị, mũi có hai cái lỗ, cụ già có hai cái tai, tóc của bà đã bạc phơ. Cổ ngắn gọn, thân của bà 2, 3 thước, bà có hai cái tay, có hai cái chân.

 Bà cụ ngoài 40 tuổi. Hình dáng bình thường, chiều rộng ba mươi, chiều cao một mét sáu.

 Khi cười miệng bà em móm mém như miệng cái hố.

 Khuôn mặt ông bầu bĩnh, đôi mắt ông như mắt bồ câu trắng, dáng đi của ông rất hoang thai và cái miệng của ông như trái tim rất mãnh liệt.

 Ông của em dài bằng 1 mét và không mập.

 “ Công cha như núi Thái sơn,

Lòng mẹ như nước trong người chảy ra “.

 ( Trích một số bài “ Tập làm văn “ quá phong phú, hihi . . .!)

 

Chủ Nhật, 16 tháng 1, 2011

TỰ ĐIỂN VUI VỀ VỢ



Mới đây, tổ chức đàn ông thế giới đã xuất bản một
 cuốn sách dày ba mươi tập, nhằm giúp cho các
 nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn về phụ nữ, một phạm
 trù phức tạp nhất của hành tinh .


Chúng tôi xin lần lượt trích đăng một số chương
 trong đó, để các chàng trai tội nghiệp khỏi bỡ ngỡ
 và có một số kiến thức cần thiết để sống sót .


CHƯƠNG I: SỰ KHÁC NHAU GIỮA PHỤNỮ
 VÀ NAI

1. Nai ngơ ngác suốt đời. Phụ nữ chỉ ngơ ngác khi
 cần ngơ ngác .

2. Nai không bao giờ giả nai. Còn phụ nữ thường
 làm thế .

3. Nai có sừng toàn đầu. Phụ nữ có sừng trong ánh
 mắt.

4. Nai ăn cỏ . Còn phụ nữ thỉnh thoảng ăn nai .

5. Gặp tai nạn, nai biến thành khô nai. Còn gặp tai
 nạn, phụ nữ biến thành … mít ướt ..

6. Nai chạy theo đàn. Phụ nữ cũng chạy theo đàn,
 nhưng không phải đàn nai.

7. Nai nhảy tung tăng. Phụ nữ đi tung tăng .


CHƯƠNG II: SỰ GIỐNG NHAU CỦA PHỤNỮ
 VÀ CỌP

1. Cọp gầm. Phụ nữ cũng gầm.

2. Cọp uyển chuyển. Phụ nữ mềm mại .

3. Trẻ con đứa nào cũng sợ cọp và đứa nào cũng
 sợ mẹ mìn, mặc dù cả đời có khi không nhìn thấy .

4. Cọp được gọi là ông ba mươi, Phụ nữ được gọi
 là sư tử.

5. Cọp nổi tiếng về sự oai vệ . Phụ nữ nổi tiếng về
 sự quý phái.

6. Cọp vẫn quan tâm tới móng. Phụ nữ cũng vậy .

7. Cọp nổi tiếng về da. Phụ nữ nổi tiếng về áo
 quần.

8. Cọp đôi lúc chỉ vồ chứ không ăn. Phụ nữ đôi khi
 chỉ yêu mà không lấy .


CHƯƠNG III: SỰ KHÁC NHAU GIỮA PHỤ NỮ
 VÀ KHẨU SÚNG

1. Súng chỉ nổ khi có người bóp cò. Phụ nữ có thể
 tự khai hỏa .

2. Súng có thể bắn từng viên. Phụ nữ có thể trở
 thành súng máy, bắn hàng loạt .

3. Khi nguy hiểm người ta mang súng bên mình.
 Khi hạnh phúc người ta cần phụ nữ

bên mình.

4. Súng có thể cướp cò. Phụ nữ có thể nói mà
 không báo trước 
.
5. Ðầu súng có lưỡi lê. Ðầu phụ nữ có cái kim kẹp
 tóc.

6. Ðàn ông có thể ra đi với một khẩu súng, và cũng
 có thể ra đi với một cô gái .

7. Số đàn ông bị thương vì súng luôn ít hơn số đàn
 ông bị thương vì phụ nữ .

8. Súng có thể hết đạn. Phụ nữ chả bao giờ .

9. Ta xách súng. Còn phụ nữ xách ta.


CHƯƠNG IV: SỰ GIỐNG NHAU VÀ KHÁC
 NHAU CỦA PHỤ NỮ VÀ MỘT CON SÔNG

1. Sông đôi khi không biết đâu là bờ. Phụ nữ cũng
 thế .

2. Biết bơi đôi lúc cũng chết. Hiểu phụ nữ đôi lúc
 còn chết nhanh hơn.

3. Sông êm đềm. Phụ nữ phẳng lặng.

4. Sông cuốn trôi mọi thứ khi ta xuống nước. Phụ
 nữ cuốn trôi mọi thứ khi ta vẫn ngồi trong nhà.

5. Sông có thác. Phụ nữ có cơn .

6. Sông mát mẻ. Phụ nữ tinh khiết.

7. Sông lấp lánh dưới ánh trăng. Phụ nữ lấp lánh
 dưới ánh đèn.


MẸ VÀ VỢ: GIỐNG VÀ KHÁC NHAU

- Mẹ nuôi ta lúc ta còn bé, ta ốm, mẹ mua phở bắt
 ta ăn; vợ nuôi ta lúc ta đã lớn, ta khoẻ, vợ đe ta
 "đừng có mà chán cơm, thèm phở!".


- Khi ta bé, ăn thêm bát cơm thì mẹ mừng cho ta
 chóng lớn; khi ta có vợ rồi, uống thêm cốc rượu
 thì vợ lo ta chóng... xỉn!


- Mẹ cho ta tiền đi cắt tóc, dặn cắt ngắn cho mát;
 vợ không cho ta tiền đi cắt tóc, ta đi cắt tóc thì nẹt
 ta đừng có vào "gội đầu thanh nữ" mà... lôi thôi.



- Mẹ bắt ta học thêm để có thêm kiến thức là thứ
 vô hình cho vào đầu ta; vợ bắt ta làm thêm để có
 thêm thu nhập là thứ hữu hình cho vào... túi vợ.


- Chưa lấy vợ, đi làm về đưa tất cả lương cho mẹ,
 mẹ còn bớt lại cho để ta tiêu vặt; lấy vợ rồi, lĩnh
 lương về vợ lấy tất cả, chẳng bớt lại cho ta đồng
 nào!


- Ta thương mẹ, tranh rửa bát, mẹ không cho, bảo
 ta tập trung thì giờ vào học tập; ta dựa vợ, lỉnh
 không rửa bát, vợ không cho, bảo không rửa thì
 bữa sau... ăn bốc !


- Khi ta chưa có vợ, mẹ thấy cô nào xinh xắn đến
 nhà đều nhắm xem có thể chọn làm dâu được
 không; khi ta có vợ rồi, vợ thấy cô nào xinh xinh
 đến nhà đều nghi là "đối thủ".


- Mẹ sợ mất sớm, sợ ta côi cút; vợ sợ sống lâu, già
 xấu đi, ta lại muốn... dì hai ! 


- Ta lớn rồi mà mẹ vẫn coi ta như còn bé; ta già rồi
 mà vợ vẫn bắt ta như lúc trẻ trai.


- Mẹ chết trước ta, ta thương nhớ, sau có nguôi
 ngoai nhưng không tìm mẹ khác; ta chết trước vợ,
 vợ thương nhớ, sau nguôi ngoai có thể tìm chồng
 khác.

Thứ Sáu, 31 tháng 12, 2010

Thứ Năm, 2 tháng 12, 2010

Luật cư xử với chiếc xe đổ rác.

Một hôm tôi nhảy lên được một xe tắc-xi để vội-vả đến sân bay. Xe chúng tôi đang chạy bên lane phải, thì có một chiếc xe đen thui bỗng từ bãi đậu chồm ra ngay trước mũi xe. Bác tài-xế tắc-xi của tôi bèn đạp thắng, xe lết đi, và chỉ thoát đụng phải chiếc xe kia trong gang tấc!

 

Người lái xe kia gân cổ lên nhìn chúng tôi lơ-láo, rồi cất tiếng chửi bới. Bác tài-xế của tôi chỉ mĩm cười và còn vẫy tay chào gã kia. Tôi muốn nói bác ta quả thật là người hiền khô và dễ thương quá đi! Thấy thế, tôi bèn hỏi tại sao bác ta lại xử sự như vậy. Tên kia suýt chút nữa đã làm tan nát chiếc xe của bác và đưa cả hai chúng ta vào nhà thương! Và đây là lúc bác tài-xế đã dạy cho tôi một bài học mà tôi gọi là "Luật Cư Xử Với Chiếc Xe Ðổ Rác"

 

Bác tài giải-thích rằng: Trên đời nầy không thiếu gì những người chẳng khác gì... những xe đổ rác! Họ chạy lông-nhông ngoài đường, thân mình đầy rác-rưởi, tâm hồn tràn ngập thất-vọng, tức-giận, và bất-mãn với đời. Rác-rưởi càng chồng chất thì họ lại càng muốn tìm được nơi nào trút bỏ, và đôi khi họ nhằm ngay chính bạn để trút đống rác đó.


Vậy thì tại sao bạn lại phải chuốc lấy đống rác nầy nhỉ! Tại sao không chỉ mỉm cười, vẫy tay chào họ, chúc họ khỏi bệnh, rồi tiếp tục con đường mình đi! Nhớ đừng lấy cọng rác nào của họ để rãy lên những người khác nơi mình làm việc, trong gia đình mình, hay cho những người mình gặp trên đường phố.


Ðiểm then chốt cần nhớ là những con người thành-công đều là những kẻ không để cho rác-rưởi xen vào chiếm đoạt một ngày của đời mình. Cuộc sống vốn ngắn ngủi, thì cớ sao sau một giấc ngủ dậy, lại phải vấn vương vì một hối-tiếc nào đó nhỉ? Do đó, ...

*  Hãy yêu-thương những kẻ đã đối xử đẹp với ta, và 
*  Hãy cầu Trời tha-thứ cho những kẻ đã xử tệ với ta,


Cuộc sống nầy chẳng qua chỉ có 10% là do bạn gây ra; và còn lại 90% là tùy xem bạn đối-phó với nó như thế nào.

Tác giả: David J. Pollay

Thứ Tư, 1 tháng 12, 2010

Gửi tặng mấy thằng bạn gốc ớt.

Người Việt Gốc Ớt 

 

Tui là dân Huế chay tức là Huế 100%, Huế từ trong ra ngoài, 
Huế đến nỗi ra Bắc vào Nam, lên vùng cao nguyên tắm đủ 
sông hồ ao lạch mà cũng không gột rửa được chất Huế trong 
người.

    Rồi một sáng một chiều theo với dòng người "di tản buồn", 
tôi đến cư ngụ trên xứ Cờ Hoa văn minh hết xẩy này mà chất 
Huế vẫn còn tồn tại thâm căn cố đế trong người dù mỗi ngày 
cố gắng tắm một lần bằng nước ấm như ngày nào trên quê 
hương yêu dấu vào mùa Đông mưa dầm thối đất thối đai.

Tôi dùng chữ "cố gắng" vì chẳng hiểu sao tôi rất lười tắm vì 
đã có lần tui thử không tắm gội trong suốt một tuần mà cũng 
chẳng thấy người bốc mùi thơm, thúi gì hết cả. Do đó tui tự 
nghĩ thầm tắm hay không tắm thì cũng như nhau chẳng được 
lợi ích gì, chẳng làm nên tích sự gì. Lại nữa, tui nhớ cách đây 
cũng khá lâu, trong lúc trà dư tửu hậu, chuyện trò với một ông 
bạn của ông Nội tui, tuổi ngoài tám mươi, Bố tôi mới hỏi:
    - Thưa Bác, Bác có bí quyết gì để giữ chữ thọ cho đến bây 
giờ không? 
    Ông Cụ vuốt râu cười khà khà: 
    - Bác rất ít tắm con à! Tắm thì lỗ chân lông nở lớn nên vi 
trùng dễ xâm nhập vào người, vì vậy suốt mùa Đông, Bác 
không tắm, chỉ dùng khăn thấm nước lau sơ mình mẩy cho 
khỏi hôi thúi mà thôi.

    Ông nội tui, tuổi lúc bấy giờ cũng trên tám mươi đã phì 
cười mà bảo rằng: 
    - Tui khác ông, mùa Hè cũng như mùa Đông, một ngày 
phải tắm một lần, một lần phải mất ít nhất 1 tiếng đồng hồ 
để kỳ cọ, xoa nắn các huyệt đạo cho máu huyết lưu thông

    Hai ông Cụ, ông nào cũng quy tiên lúc tuổi hạc đã ngoài 
chín mươi, ông nào cũng có lý khi bàn đến bí quyết sống lâu, 
rất chi là khoa học. Vậy tui phải nghe theo lời của ai bây giờ?

Sang Mỹ, sẵn có nước nóng chảy trong vòi, tắm một ngày một 
lần mà chất Huế trong tui vẫn còn nồng cay vì tui ăn ớt như 
nhồng trong ba bữa ăn sáng, trưa, tối. Vì thế, ai hỏi tui quê 
quán ở đâu, tui đều trả lời một cách hãnh diện rằng tui là 
người Việt gốc ớt.

Câu trả lời thật đầy đủ "thông tin".(Tui dịch chữ "ìnformation" 
cho có vẻ văn minh thời thượng). Này nhé! Người Việt tức là 
người Việt Nam không phải Phi Luật Tân hay Miên, Lào, Thái vv...

Tui đã nhiều lần bị mấy ông bà người Phi hỏi tôi có phải là Philippino 
không. Tức như bò đá! Mình là con Rồng cháu Tiên mà bị nhận lầm 
là Phi thì có uất ức không cơ chứ? Chắc là tại tui xấu trai , thô kệch.!

Dân Phi nghe tui phát biểu như thế này chắc là kiện tui ra toà, buộc 
tội mạ lỵ dân tộc. Các bạn có biết không, mấy cô, mấy bà Phi lai Tàu 
đẹp lắm các bạn ơi ! Rồi thì "gốc ớt" là biết ngay nơi chôn nhau cắt rún 
của tui là xứ Thần Kinh chứ còn théc méc gì nữa.

Gốc ớt là gốc Huế không sai chạy vào đâu được vì có lần tui bị một 
ông bạn hỏi một câu cắc cớ: 
    - Mi dân Huế, vậy mi có biết tại sao dân Huế chỉ ăn ớt xanh không 
mà thôi không?

    Tôi gân cổ cãi lại là dân Huế tui ăn đủ mọi thứ ớt: ớt xanh, ớt đỏ, 
ớt tím, ớt vàng, ớt chỉ Thiên, ớt chỉ Địa, ớt chìa vôi, ớt hiểm, ớt mọi, 
ớt bột, ớt trái tươi cắn dòn tan, chứ làm gì mà lại chỉ ăn ớt xanh.

Ớt xanh là ăn với bánh bột lọc để hài hoà với màu đỏ của con tôm 
nằm nữa kín nữa hở trong lớp bột lọc. Ăn như thế là ăn kiểu cầu kỳ 
của các Mệ chứ thật ra ớt nào cay thì ăn chứ đâu kể màu sắc.

Ông bạn tui để cho tui nói cho sướng lỗ miệng rồi mới ung dung 
giải thích: 
    - Mi thật là dân Huế mất gốc, không biết chi mô hết! Dân Huế 
ăn nhiều ớt quá đến nổi ớt không kịp chín đỏ nên chỉ ăn toàn ớt 
xanh. Có rứa mà cũng không biết!

    Ui chui choa, tui khoái quá trời khi nghe ông bạn tui ca tụng 
cái "đức" ăn ớt của quê hương tui. Tui chỉ muốn ôm hun ông ta 
một miếng để thưởng ông ta mà không dám, vì sợ bàn dân thiên 
hạ tưởng tui là dân "Gay" vừa mới từ San Francisco xuống quận 
Cam chơi.

    Nói đến ớt thì phải nói đến cái món ăn "quốc hồn quốc tuý" 
của Huế tui là món bún bò. Ai cho tui ăn bún bò mà bảo tui đừng 
ăn ớt thì thà chết còn hơn. Thiệt là chưởi Cha tui, tui cũng không 
giận bằng! Ớt phải cay xé họng mới làm cho bún bò ngon được!

    Ăn bún bò Huế chính gốc là phải vừa ăn vừa hít hà vì ớt cay, 
phải đổ mồ hôi trán, tuôn mồ hôi nách (Vì vậy mà dân Huế ai cũng 
có một chai Lotion Kata, trị mồ hôi nách bỏ trong túi quần để xài 
mỗi khi ăn xong tô bún bò Huế. Tui nói rứa mà ai không tin tui 
thì thôi).

Ăn bún bò Huế là chỉ dùng đũa chứ không dùng muỗng, phải húp 
xùm xụp mới đúng phong cách Huế. Muỗng chỉ dùng khi ăn phở 
Bắc Kỳ mà thôi. Cầm muỗng để ăn bún bò Huế là chưởi Cha cái 
tô bún bò Huế mất rồi! Mùa Đông ở Huế không có ớt tươi vì quý 
hiếm lắm: "Ớt mùa Đông ba đồng một trái" nên phải ăn ớt bột 
hay tương ớt hay ớt ngâm dấm nên vì vậy mà mùa Đông, tô bún 
bò Huế đã không ngon bằng tô bún mùa Hè.Trời đã "nóng nung 
người, nóng nóng ghê" (Trong Quốc văn giáo khoa thư, mô tả 
mùa Hè) thế mà lại còn sì sụp tô bún bò Huế ớt cay chảy nước 
mắt, nước mũi, thì thật là ngon không để mô cho hết. Ngon như 
rứa thì thôi!

Tôi mời ai ăn bún bò Huế mà mặt cứ lạnh như tiền, ăn một cách 
ung dung, nhàn hạ không "khẩn trương" chê ớt không ăn, không 
thấy một giọt mồ hôi trên trán thì đừng có hòng được tui mời ăn 
lần thứ hai..

Ăn như vậy là "thực bất tri kỳ vị" là không kính trọng tô bún bò 
là khinh thường dân Huế tụi tui. Lúc tui còn ở Bloomington, tiểu 
bang Indiana, tui có anh bạn trẻ người miền Nam, Saigon hay 
đâu đó tôi quên mất tiêu. Anh ta khoái bún bò lắm !

Mỗi lần đến nhà tui ăn bún bò, anh hít hà liền miệng, mồ hôi mồ 
kê nhễ nhại, anh tham dự hết mình vào "công cuộc" ăn bún bò 
làm tôi thích thú quá chừng, xem anh ta như bạn tri kỷ, tri âm vậy.

    Ngoài món bún bò bắt buộc phải có ớt lại còn một món ăn khác 
mà ớt cay đóng một phần tối ư quan trọng. Ấy là món "Cơm Hến". 
Người ta đã nói lạt như nước ốc, nước hến, vậy thì để bổ sung cho 
cái "lạt" đó chỉ có cái "cay "của ớt. Không có ớt là tô cơm hến xem 
như bỏ đi chẳng đáng một đồng xu. Còn nhiều món ăn đặc sệt Huế 
nữa như bánh bột lọc, bánh nậm, bánh ướt nhuỵ tôm, bánh ram bánh 
ít, cơm dấm nuốt vv...không món ăn nào là không có ớt đi kèm, dĩ 
nhiên là không ăn chè hạt sen hồ Tịnh Tâm cùng với ớt.

Nhưng Mẹ tui lúc sinh thời, Bà ăn mít ráo ngọt lịm và dòn tan như 
rứa mà Bà cũng chấm múi mít vàng ươm vào trong chén nước mắm 
ớt cay. Mùi vị dĩ nhiên là có khác đi nhưng hương vị cũng độc đáo 
lắm, các bạn cứ thử xem một lần cho biết ra răng.

    Ớt gắn liền với Huế của tụi tui nên sở dĩ tui phải nấn ná ở lại 
với quê hương gần 10 năm, sau 1975 là vì tui sợ qua Mỹ không có 
ớt mà ăn. Tui ăn ớt như nhồng! Tui còn nhớ lúc còn học cấp tiểu 
học trường làng, ông ngoại tui có nuôi một con nhồng, mỗi ngày 
phải cho nó ăn một chén ớt hoặc tươi hoặc ớt bột. Ăn nhiều ớt 
để lột lưỡi và nói được tiếng người. Và quả thật như vậy, sau một 
thời gian ăn ớt, con nhồng đã nói được. Cậu tôi đã bị ông ngoại tôi 
thưởng cho một tát tai là vì đã dạy cho con nhồng chào khách chẳng 
lich sự tí nào.

Số là một hôm có khách đến nhà, ông ngoại tôi đang khoe với khách 
con nhồng biết nói thì đột nhiên nó xổ ra một câu khiến khách phải 
phì cười và thẹn đỏ mặt: "Chào khách toẹt!" (Khách toẹt là khách 
chẳng ra gì, là chỉ như một món ăn dở, không ngon, chỉ muốn nhổ 
toẹt ra khỏi miệng)

    Nhồng ăn ớt để lột lưỡi, để nói nhiều. Như vậy, dân Huế tụi 
tui ăn ớt nhiều thì có nói nhiều không hí? Ai răng tui không biết 
chứ tui thì hình như nói không ít mỗi khi bạn bè bắt đúng tần số 
của tui.

Ông ngoại tui thường mắng tui là: 
    - Cái thằng ni răng mà hắn nói không để miệng đâm da non..

    Chẳng lẽ ai nói ít thì miệng nhiều da non hay răng? Tui thực 
không biết! E là phải nhờ mấy nhà sinh vật học giải thích cho 
điều này mới được.

    Trên đây tui đã nói đến cái công dụng của ớt làm chảy nước 
miếng nhiều và do đó làm thức ăn trở nên ngon miệng hơn. 
Nay xin nói về những đặc tính của ớt trên phương diện y học. 
Có thời gian tui làm việc ở tỉnh Bình Tuy gần căn cứ Bốn, khu 
Rừng Lá trên đường từ Saigòn ra Phan Thiết, tui có dịp tiếp 
xúc với các giáo viên dạy học vùng Rừng Lá này. Họ ăn ớt nhiều 
đến nổi tui từng tự phụ là người Việt gốc ớt mà cũng phải ngả 
mũ ra chào thua.

Họ nhậu rượu đế đổ trong thau nhựa trộn chung với nước ngọt 
xá xị và mồi nhấm rượu chỉ là môt mâm trái cóc và một tô muối 
ớt, ớt nhiều hơn muối. Họ ăn ớt không những để món ăn khoái 
khẩu hơn mà còn dùng ớt như một phương thuốc trị bệnh sốt rét 
vì người nào cũng bị chứng bệnh này hành hạ và chỉ nhờ có ớt 
mà căn bệnh thuyên giảm dần dần. Chắc các bạn đã từng nghe 
hai câu thơ nói về Rừng Lá:

    Ngày anh đi, rừng em chưa xanh lá 
    Ngày anh về rừng lá đã xum xuê 
  
 Và hai câu thơ đối lại: 
    Ngày em đi, anh còn như trái ớt 
    Ngày em về thì ớt lớn bằng khoai.

    Mới đây, tôi lại đọc được mẫu tin loan báo đại học UCLA và các 
khoa học gia người Nhật vừa khám phá ra ớt trị được căn bênh ung 
thư tiền liệt tuyến. Các tế bào ung thư đã bị chất cay của ớt tiêu 
huỷ dần dần. Thật là một tin mừng gây phấn khởi cho những con 
dân gốc Huế.

    Trong cảnh Cali mưa buồn nhớ mùa mưa xứ Huế, tôi thèm ăn 
một tô bún bò với ớt cay xé họng và tôi lẩm cà lẩm cẩm nghĩ rằng 
không biết ai là người đầu tiên tìm ra cây ớt trong rừng cây nhiệt 
đới và ai là người đầu tiên nếm thử trái ớt. Không biết lúc bấy giờ 
người đó có nhảy nhỏm người lên vì vị cay xé nồng của ớt và có lo 
cuống cuồng vì sợ ăn nhằm chất độc không. Nếu biết được vị tiền 
nhân nào tìm ra và nếm trái ớt đầu tiên trên trần thế thì tui sẽ xin 
bàn dân thiên hạ tôn ông ta là vị Thần Bếp hay nói văn hoa Hán(g) 
rộng thì ông ta thật xứng đáng được phong làm Trù Thần trên cõi thế.

    Hoan hô ớt!

Tác Giả: Hoàng Lão Tà

Thứ Bảy, 27 tháng 11, 2010

Thổ ngữ tiếng Huế...

 

Tiếng Huế không phải chỉ đơn giản tê mô răng rứa như thỉnh thoảng vẫn xuất hiện trong thơ, nhạc và văn xuôi như những nét chấm phá rất dễ thương để nói về người và xứ Huế; mà nhức đầu, phức tạp, nhiêu khê, đa dạng và phong phú hơn nhiều. Tùy vào từng địa phương của Huế, cách phát âm có chỗ nặng nơi nhẹ; lúc thanh tao khi khó hiểu.

 

Xin được đơn cử một câu rất Huế, một tâm sự kín đáo giữa hai o đang tuổi lấy chồng: "Tau noái với mi ri nì, en còn ở dôn, rứa mà bữa tê tề, en chộ tau phơi ló ngoài cươi, en kiêu tau vô, bồn tau lên chờn, cái ba... en đẩn. Mi quai chướng khôn ?" Sở dĩ tâm sự kín đáo vì đây là chuyện riêng của hai người, nói bằng thổ ngữ, nhưng ý nghĩa thì như vầy: "Tao nói với mày như vầy, ảnh còn ở rể, vậy mà hôm kia kìa, tao đang phơi lúa ngoài sân, ảnh kêu tao vào, bồng tao lên giường, rồi ảnh... Mày coi có kỳ không ?".

 

Chữ đẩn, ngoài ý nghĩa một trong bốn cái nhất của đời người trên còn có nghĩa như ăn: "Đẩn cho bưa rồi đi nghể". Ăn cho no rồi đi ngắm gái.

 

Đẩn cũng có nghĩa là đánh đòn: "Đẩn cho hắn một chặp!" (Đục cho hắn một hồi!). Chữ đẩn còn được phong dao Huế ghi lại:

 

Được mùa thì chê cơm hẩm

Mất mùa thì đẩn cơm thiu

 

Xin được thêm một câu ngăn ngắn gần như rặt thổ ngữ của Huế mà, nếu không có... thông dịch viên gốc Huế hoặc Huế rặt, e rằng khó mà.. đã thông cho được:

 

"Thưa cụ mự, bọ tui vô rú rút mây về đươn trẹt, bọ tui chộ con cọt, rứa mà nỏ biết ra răng, con cọt lủi, lủi năng lắm, bọ tui mờng rứa thê ! Chừ mạ tui cúng con gà, cụ mự qua chút chò bui." (Thưa cậu mợ, bố con vào rừng rút mây về đan rá (hoặc nia), bố con thấy con cọp, vậy mà chẳng biết sao; con cọp chạy trốn, chạy lẹ lắm; bố con mừng quá. Giờ mẹ con đang cúng con gà, cậu mợ qua chút xíu cho vui) Khó hiểu chưa ? !

 

Thổ ngữ ở Huế thì nhiều lắm và cũng lạ lắm, và vì tiêu đề của bài này là lan man về những thổ ngữ đó, nên xin được nhẩn nha tìm lại chút ít những gì đã mất và ôn lại những gì đang còn xài. Vì trang báo có hạn, không thể giải thích từng chữ một, nên trong bài này, xin được ghép thổ ngữ thành từng câu, từng nhóm thổ ngữ, vừa đỡ nhàm chán lại ra câu ra kéo, có đầu có đuôi hơn:

 

"Đồ cái mặt trỏm lơ mà đòi rượn đực!" (Thứ mặt mày hốc hác mà đòi hóng trai) Độc chưa ? O mô mà lỡ mang cái nhãn không cầu chứng tại tòa này chắc phải ở giá hoặc phải chọn kiếp... tha hương may ra mới có được tấm chồng. Chữ rượn gần đồng nghĩa với câu con ngựa Thượng Tứ, câu này cũng độc không kém. Thượng Tứ là tên gọi của cửa Đông Nam, bên trong cửa này có Viện Thượng Kỵ gồm hai vệ Khinh kỵ vệ và Phi kỵ vệ chuyên nuôi dạy ngựa cho triều đình Huế. Vì thế gọi ngựa Thượng Tứ có nghĩa bóng bảy xa xôi rằng con đó nó ngựa lắm, nó đĩ lắm, nhưng thâm thuý hơn nhiều

 

"Mệ cứ thộn ló vô lu, còn lưa, tui này lại !" (Bà cứ dồn lúa vô khạp (cho đầy), còn dư ra, con mua lại). Chữ lưa cũng còn có nghĩa là còn đó như trong hai câu trong bài ca dao Huế:

 

Cây đa bến cộ (cũ) còn lưa (còn đó)

Con đò đã khác năm xưa tê rồi

 

Này lại (mua lại); tiếng này thường chỉ dùng nơi xóm giềng, thân cận; tương đương với chữ nhường lại, chia lại, mua lại. Chứ không dùng ở chợ búa hoặc nơi mua bán um sùm

 

Đập chắc lỗ đầu, vại máu! (Đánh nhau bể đầu, toé máu!)

 

Thương bọ mạ để mô ? Để côi trốt! Chắc chúng ta cũng thường hay hỏi lũ con lúc chúng vừa tập nói, vừa biết tỏ tình thương đối với cha mẹ, câu này có nghĩa: "Thương bố mẹ để đâu ? Để trên đầu!" Rồi đưa ngón tay chỉ chỉ, miệng cười cười, nghe hoài không biết chán

 

Tra trắn rứa mà còn ở lỗ! (Chững chạc, già đầu vậy mà còn cởi truồng). Ở lỗ cũng xuất hiện trong câu phương ngôn "ăn lông ở lỗ" hoặc "con gái Nam Phổ, ở lỗ trèo cau!"

 

Lên côi độn mà coi (Lên trên đồi mà xem.) Chữ coi về sau này đã phổ biến đến nhiều địa phương khác.

Mự đừng có làm đày! (Mợ đừng có lắm lời, thày lay). Riêng chữ cụ mự thường là dùng cho cậu mợ. Người Huế ít dùng chữ cụ để chỉ người già vì đã có chữ ôn hay ông. Điển hình như cụ Phan Bội Châu với chuỗi ngày "an trí " ở Huế, dân Huế đã có tên gọi ông già Bến Ngự, hoặc trong ca dao Huế, khi nói đến cụ Phan:

 

Chiều chiều ông Ngự ra câu

Cái ve cái chén cái bầu sau lưng

 

Chộ chưa ? Nỏ chộ ! (Thấy chưa ? Không thấy !) Nỏ là lối phủ nhận gọn gàng pha chút giận hờn, chanh cốm như chả biết, chả ăn, chả thèm vào ! Hắn mô rồi ? Nỏ biết ! Chữ nỏ biết ở đây pha chút, chút xíu thôi sự phủi tay về cái chuyện hắn đang ở đâu ! Tục ngữ Huế: Có vỏ mà nỏ có ruột.

 

Khóc lảy đảy, không biết ốt dột ! (Khóc ngon khóc lành, không biết xấu hổ!).

 

En dòm tui, tui dị òm ! (Anh ấy nhìn tôi, tôi thẹn quá !) Chữ òm người Huế vẫn thường dùng để bổ túc cho cái phủ định của mình: Ngon không ? Dở òm !

 

O nớ răng mà không biết hổ ngươi ! (Cô đó sao mà không biết mắc cỡ !) Hổ ngươi cũng là tên của cây trinh nữ, cây mắc cỡ. Cũng như xấu hổ, thẹn, mắc cỡ thì ốt dột, dị và hổ ngươi có nghĩa khác nhau tuy chút ít nhưng tinh tế, nhẹ nhàng

 

Chiều hắn cho gắt, hắn được lờn: Chiều nó cho lắm vào, nó làm tới. Mời ôn mệ thời cơm: Mời ông bà dùng cơm.

Mệ tra rồi mệ chướng: Bà ấy già nên sinh tật. Chữ chướng, người Huế cũng thường dùng để chỉ mấy đấng nhóc tì khóc nhè, bướng bỉnh hoặc các vị có lối nói, cách hành xử ngang như cua.

 

Ăn bụ cua cho hết đái mế: Ăn vú cua cho hết đái dầm. Chữ bụ cũng dành cho người và các loài có vú khác. Bụ mạ là vú mẹ, bọp bụ là bóp.

 

Bữa ni răng tau buồn chi lạ, buồn dễ sợ luôn ! (Sao hôm nay tao buồn quá, buồn quá trời luôn !). Dễ sợ, với người Huế không đơn thuần ở nghĩa thấy mà ghê ! hoặc khủng khiếp quá !, mà còn có nghĩa, thí dụ: Con nớ đẹp dễ sợ !: Con bé đó đẹp quá trời !

 

Răng mà cú tráu rứa tê ?: Sao mà cộc cằn quá vậy ? Chữ cú tráu nếu phát âm đúng với giọng Huế thì nghe nặng hơn chữ cộc cằn nhiều, có lẽ phải gom thêm mấy chữ như thô lỗ, vũ phu thì mới lột tả được hết nghĩa.

 

Huế nói trại

 

Nói trại là nói sai giọng, không đúng âm theo giọng viết, nói trại đôi khi cũng dùng trong trường hợp "nói khác đi, nói cách khác". Cách nói bị biến âm này rất phổ thông ở Huế, nhất là dân cư vùng biển. Nói trại làm cho âm thanh nặng hơn, khó hiểu hơn.

 

Con tâu tắng ăn ngoài bụi te tức là con trâu trắng ăn ngoài bụi tre. Tời tong tẻo, nước tong veo: Trời trong trẻo, nước trong veo.

 

Hầu hết những từ bắt đầu bằng "nh" đều được người Huế nói trại thành "gi": già (nhà). Giớ già giớ vợ ở già: Nhớ nhà nhớ (luôn) vợ ở nhà!

 

Những từ bắt đầu bằng "s" thì nói trại ra thành "th": Ăn thung mặc thướng: Ăn sung mặc sướng hoặc Thầy gòn là Sài gòn, hoặc nữa: Noái năng thòng phẳng: nói cho sòng phẳng, rõ ràng. Lối phát âm của người Huế không xác định được âm cuối là "n" hay "ng": Con thằng lằng chép miệng thở thang!: Con thằn lằn chép miệng thở than!

Những chữ có âm "o" thường nói trại ra "oa": Xa voài voại, noái khôn tới, với khôn được, ngó khôn chộ: Xa vòi vọi, nói không tới, với không được, nhìn không thấy! Hoặc nữa: Đi coai boái, thầy boái noái đi coai cái voài voai: Đi coi bói, thầy bói nói đi coi cái vòi voi.

 

Những chữ có âm "ô", người Huế thường nói trại thành âm "u": Thúi trong thúi ra: Thối từ trong ra ngoài. Túi lửa tắt đèn: Tối lửa tắt đèn.

 

Nậy rồi mà mũi rãi thò lò !: Lớn đầu mà mũi rãi lòng thòng ! Chữ thò lò cũng đã góp mặt trong ca dao Huế:

Học trò thò lò mũi xanh

 

Cầm cái bánh đúc chạy quanh nhà thầy !

 

Vô rú mà đốn săng: Vào rừng mà đẵn gỗ. Săng cũng đã góp mặt trong mấy câu hò giã gạo với lối đối đáp rất "văn hóa" của Huế:

 

Bên nữ:

 

Lẻ củi săng chẻ ra văng vỏ

Bỏ vô lửa đỏ than lại thành than

Trai nam nhân chàng mà đối đặng

Thiếp xin kết nghĩa tào khang trọn đời

 

Nghĩa: Cây củi gỗ chẻ ra văng (Văn) vỏ (Võ), thảy vô lửa thì thành (Thành) than (Thang). Cái kẹt là ý lại thâm hậu, cao xa hơn nhiều: Văn, Võ Thành, Thang là những vị vua thời Tam Đại, Tây Châu bên Tàu.

Bên Nam:

 

Trâu ăn giữa vạc ló lỗ

Đã ngụy chưa tề !

Nam nhân chàng đã đối đặng

Thiếp đã chịu theo chàng hay chưa ?

 

Nghĩa: Con trâu (Trâu) ăn giữa vạt lúa trổ (Lỗ), sao kỳ quá vậy ? Ý ư, cũng điển tích như ai: Trâu, Lỗ, Ngụy Tề là bốn nước thời Xuân thu Chiến Quốc cũng ở bên Tàu luôn. Còn hai người có "tào khang" với nhau được hay không là chuyện... của họ

 

En trên rầm thượng bổ xuống, nằm ngay đơ cán cuốc, phải địu đi nhà thương !: Anh ấy té trên rầm thượng té xuống, nằm cứng như cán cuốc, phải bồng, cõng đi nhà thương ! Đến đây thì kẻ hèn này hơi kẹt. Rầm thượng là gác lửng, hay kho chứa bên dưới mái nhà ? Ở Huế, rầm thượng không phải là chỗ ngủ nghỉ mà là nơi chứa những đồ gia dụng đáng giá nhưng phải cỡ nhỏ, vì không có lối lên. Muốn lên rầm thượng, phải bắc thang; thân phụ tôi đã dùng rầm thượng để cất giữ những đồ cổ vừa phải, không qúy lắm. Còn nếu qúy nữa thì bỏ vào rương xe, một thứ tủ thấp đóng bằng gỗ thật dày, có nắp đậy, có luôn 4 bánh xe để đẩy vì khiêng không nổi, nặng quá mà ! Mặt bằng của rương xe là cái đi-văng, tối tối cứ trải chiếu nằm ngủ trên đó là khỏi lo trộm đạo

 

Nước mắt chặm hoài không khô, răng khổ ri nì trời !: Nước mắt lau, thấm hoài không khô, sao khổ vậy nè trời ! Chữ chặm cũng đã lãng đãng trong mấy câu hò giã gạo, mà vì não nùng ai oán quá, nghe hò xong e phải.. bỏ chày luôn:

 

Hai hàng nước mắt như mưa

Cái khăn lau không ráo

Cái áo chặm không khô

Công anh đổ xuống ao hồ

Quì thưa bẩm dạ thuở mô đến chừ !

 

Mặt mày chạu bạu, ai chịu cho thấu !: Mặt mày một.. đống, ai chịu cho nổi ! Chữ thấu cũng có nghĩa là tới: Kêu trời không thấu: Kêu không tới trời; Vô thấu trong Thầy gòn: Vô tuốt trong Sài gòn.

Mả cha cái thằng vô hậu: Tiên sư cái thằng đoảng

Ăn trầu cơi thiếc: Ăn trầu (để) trong hộp, quả bằng thiếc. Cái cơi thiếc cũng đã đi vào tục ngữ Huế: Uống nước chè tàu, ăn trầu cơi thiếc.

"Mả cha mi" là tiếng chửi, lời nhiếc mắng rất thông dụng ở Huế, đồng nghĩa với "mồ cha mày". Lối chửi này ít thông dụng ở những địa phương khác.

Đi xe hay đi chưn xuống rứa ?: Đi xe hay đi bộ xuống đây vậy ?

Túi thùi thui, có chộ chi mô !: Tối quá, không thấy gì hết !

Rạt gáo rồi mà còn làm le làm gió !: Cạn túi rồi mà còn làm bảnh, làm sang !

Ăn đoại cơm hến, uống đoại nước chè: Ăn tô cơm hến, uống bát nước chè (xanh). Tục ngữ Huế: Ăn lưng đoại, làm đoại lưng (làm muốn gãy lưng !).

 

Cơm hến, chẳng có chi cầu kỳ, nhưng nhiều mùi vị với lưng bát cơm nguội, rau sống, thân chuối non, rau mùi xắt nhuyễn, nước luộc hến chan vô, cho chút xíu ruốc, bỏ chút ít hến xào, thêm vài trái ớt, đúng với cái ít ỏi của Huế.

Bữa ni đi kéo ghế: Hôm nay đi ăn nhà hàng. Người Huế, nhất là ở thôn quê, thường dọn cơm trên phản, trên tấm ngựa. Không dọn trên bàn nên khỏi có cái vụ kéo cái ghế mà ngồi vào bàn. Vì thế, mỗi khi được dịp đi ăn ở quán, ở nhà hàng thì gọi là đi kéo ghế.

 

Huế làm đày làm láo, Huế nói chữ

 

Vâng, người Huế, nhất là mấy o, mấy mệ thì ưa ăn nói văn hoa chữ nghĩa, ưa đa sự đa lự, ưa... làm đày làm láo, tức ưa xảnh xẹ, ưa nói lý nói sự, nói dông nói dài. Thêm vào đó, phải nói cho hay, khi trầm khi bổng, lúc nhặt lúc khoan thì "tụng" mới phê ! Cái phong cách noái lặp đi lặp lại của người Huế vừa như là một cách nhấn mạnh, vừa có vẻ dạy đời lại vừa mang nhiều ý nghĩa khác, xa xôi hơn, thâm thúy hơn nữa.

 

Để mô tả cái sự lanh chanh lắm, xí xọn quá, lu bu lắm. Người Huế ít khi dùng chữ lắm hay chữ quá mà dùng điệp ngữ: Cái con nớ, lanh cha lanh chanh ! Mấy mụ o giọn (nhọn) mồm tức mấy bà chị chồng mỏng mép của Huế vẫn đôi khi chê em dâu: Răng mà hắn vô phép vô tắc rứa hè !: Sao mà nó vô phép quá vậy!

Về màu sắc, người Huế thường có lối nói điệp ngữ để nhấn mạnh: xanh lè lè, đỏ lòm lòm, đen thùi thui, vàng khè khè, tím giắt giắt (tím ngắt).

 

Bởi, cà rịch cà tang rứa mà đoài làm giôn !: Vậy đó, tà tà, lè phè vậy mà đòi làm rể ! Còn nữa, để than trách ông trời sao mưa lâu quá, mấy o ngồi chỏ hỏ trong nhà dòm ra, chép miệng than dài than ngắn: Mưa chi mưa mưa thúi đất thúi đai !.

 

Một bà mẹ tụng cô con gái, một bà chị cả mô-ran cô em thứ mà nghe cứ như là đang đọc một bài đồng giao với vần điệu, trầm bổng cũng là một trong những sinh hoạt dưới mái gia đình: Mi phải suy đi nghĩ lại cho kỹ ! Mi coi, là con gái con lứa, đừng có đụng chăng hay chớ, cũng đừng lật đa lật đật, cũng đừng có mặt sa mày sỉa. Bọ mạ thì quần ống cao ống thấp, tất ba tất bật để nuôi mình. Tau thấy mi rứa, tau cũng rầu thúi ruột thúi gan !

 

Cái thông điệp cho thằng em trai thì: Năm tể năm năm tê, mi còn lẩm đa lẩm đẩm, mũi rãi thò lò, chừ mi nậy rồi, phải biết ăn biết noái, biết goái biết mở, vô khuôn vô phép. Chớ mai tê mốt nọ mi nên vai nên vế, nên vợ nên chồng, làm răng mi bông lông ba la hoài như cái đồ trôi sông lạc chợ cho được ?!

 

Mấy ôn, khi giáo huấn con cháu, vẫn thường trích dẫn ca dao, tục ngữ để đệm thêm cho ý tưởng của mình: Đó, mi thấy đó. Ai ơi chớ phụ đèn chai, thắp trong Cần Chánh rạng ngoài Ngọ Môn. Mi đoảng, mi vô hậu, được bèo quên rá, được cá quên nơm; thì mi lấy ai mà bầu bạn, lấy mô mà tri kỷ !

 

Xa Huế đã lâu lắm rồi, từ ngày vừa biết tập tành đi nghễ mấy o Đồng Khánh, vừa ngấp nga ngấp nghé muốn vào (nhưng sợ bị chưởi) nhấm nháp thử ly cà phê đen sánh của cà phê Phấn, nơi mà các anh hùng trong thiên hạ vẫn tấp nập ra vào; và cũng vừa biết để dành tiền để mua những tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn tại nhà sách Ưng Hạ. Phong cách Huế không ít thì nhiều cũng đã phôi pha, thổ ngữ Huế cũng không mấy khi có dịp để dùng lại cho đỡ giớ, cho khỏi quên; thành ra cũng xao lãng đi nhiều.

 

Trong cái xao lãng bỗng có ý nghĩ muốn tìm lại, noái lại tiếng noái của thời cũ rích cũ rang nhưng đằm thắm đó. Cho nên chỉ xin được ghi lại đây những gì còn nhớ mài mại, để gọi là khơi lại chút âm thanh của những ngày xưa cũ.



Phan Thịnh